Vị Tiên tri Kính yêu của tôi

THÁNH CHIẾN TABUK

Nằm giữa Medina al-Munawwarah và Damascus là Tabuk, một địa điểm nổi tiếng. Có người nói rằng đó là tên của một con suối. Cuộc viễn chinh này được gọi là Thánh chiến Tabuk vì đây là cuộc viễn chinh cuối cùng của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Nó cũng được gọi là Fadiha. Bởi vì những người đạo đức giả đã bị làm nhục trong trận chiến này. Nó cũng được gọi là Jaysh al-ushrat. Người Muslim đã phải chịu rất nhiều gian khổ trong cuộc viễn chinh này. Hơn nữa, khoảng cách rất xa và thời tiết rất nóng, quân địch rất hùng hậu. Đang xảy ra một nạn đói. Một con lạc đà mười người cưỡi. Những người lính hầu như chỉ ăn chà là một tháng ròng. Thỉnh thoảng họ ăn lúa mạch rang. Đôi khi thậm chí lúa mạch cũng không có. Họ lên đường đi viễn chinh Tabuk vào thứ năm trong tháng Rajab, năm Hegira thứ chín.

Vào năm thứ chín này, khi Islam nhanh chóng lan rộng trên Bán đảo Ả Rập, những Cơ đốc nhân Ả Rập đã viết một lá thư cho Heraclius, người ghen tị với “Nhà nước Islam”, là Hoàng đế Byzantine, và muốn ngăn chặn Islam. Họ nói rằng, “Có tin rằng Vị tiên tri ấy đã qua đời. Người Muslim hiện đang trong nạn đói và rất khổ. Nếu ngài muốn họ cải đạo sang tôn giáo của mình, thì đây là lúc rồi.” Sau lá thư này, Heraclius đã cử bốn mươi ngàn binh lính do Kubad chỉ huy nhằm chống lại người Muslim.

Biết được điều này, Giáo chủ Fakhr al-kainat của chúng ta đã tập hợp các Ashab và ra lệnh cho họ chuẩn bị cho chiến tranh. Vì năm đó hạn hán, các sahabi rất khó khăn về tài chính. Chỉ các thương gia là có tình hình tài chính tương đối tốt. Có rất nhiều binh lính Islam. Thực phẩm và phương tiện chiến tranh rất ít. Sẽ có khó khăn. Để trang bị cho quân lính tham gia chiến tranh, Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta mong muốn các Ashab viện trợ tài chính. Mong muốn này của Giáo chủ (sallAllahu ‘alaihi wa sallam) của chúng ta đã khiến các sahabi hành động. Mọi người đều mang theo những gì mình có và chuẩn bị cho cuộc thánh chiến bằng tài sản và mạng sống của họ.

Hadrat Abu Bakr, người bạn đồng hành của Tiên tri chúng ta trong hang động, đã mang theo tất cả đồ đạc của mình. Khi Giáo chủ, Rasul al-akram của chúng ta hỏi ông, “Ông đã để lại gì cho gia đình mình, hỡi Aba Bakr?”, ông trả lời, “Tôi đã để lại Allahu ta'ala và Rasul của Người.” Hadrat 'Umar đã mang theo một nửa đồ đạc của mình. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta hỏi ông, “Này 'Umar! Ông đã để lại gì cho gia đình mình?”, ông trả lời, “Tôi đã để lại vừa bằng những gì tôi đã mang theo.” Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói, “Sự khác biệt của hai người giống như sự khác biệt giữa lời nói của hai người.” Khi nghe điều này, Hadrat 'Umar đã bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình với những lời, “Xin cha mẹ tôi được hy sinh vì ngài, hỡi Aba Bakr! Ngài vượt qua tôi trong mọi cuộc đua trong công việc thiện nguyện. Giờ tôi đã hiểu rằng trong bất cứ điều gì tôi không thể vượt qua ngài.”1

Ashab al-kiram đã cố gắng giúp đỡ nhiều nhất có thể. Nhưng những người đạo đức giả đã chế giễu họ, “Các người tặng những thứ này để khoe khoang.” Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta nói, “Bất kỳ ai tặng sadaqa hôm nay, sadaqa sẽ làm chứng có lợi cho người đó trước Allahu ta'ala vào ngày phán xét.” Sau những lời ân phước này của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, các tín đồ bắt đầu giúp đỡ nhiều hơn nữa. Hadrat 'Uthman ibn Affan đã trang bị cho một nửa quân đội.2 'Uthman az-Zinnurayn radiy-Allahu 'anh đã tặng cho quân đội 950 con lạc đà và 50 con ngựa cùng với các phụ kiện kèm theo, và ngoài việc góp tiền trang bị cho kỵ binh, ông còn gửi thêm mười nghìn dinar hoặc bảy trăm rukyas vàng.3 Vì vậy, ông đã là người giúp đỡ nhiều nhất trong số những người Muslim. Hadrat 'Uthman đã đáp ứng mọi nhu cầu của quân đội, thậm chí đặtcả những gói kim cho họ sẽ dùng để sửa chữa túi đựng nước. Nhờ sự giúp đỡ này của ông, Giáo chủ, Rasul al-akram (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) của chúng ta đã nói, “Từ giờ trở đi, ‘Uthman sẽ không bị ghi tội.”4 Một trong những sahabis nghèo nhất đã lấy nước từ một cái giếng trong một vườn chà là suốt đêm cho đến sáng để đạt được phần thưởng giúp đỡ thánh chiến. Ông đã mang những quả chà là mà ông kiếm được đến cho Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta và nói, “Hỡi Rasulallah! Tôi đã mang những gì tôi có để đạt được sự hài lòng của Rabb của tôi. Xin hãy chấp nhận chúng.”

Trong khi đàn ông Muslim cố gắng hết sức có thể đểgiúp đỡ, phụ nữ cũng có phần đóng góp của mình trong vấn đề này.

Trong lúc chuẩn bị cho cuộc viễn chinh, người Muslim đã trải qua thời kỳ rất khó khăn. Nạn đói nghiêm trọng đến nỗi nhiều người trong Ashab al-kiram không còn gì cả đã đến gặp Giáo chủ, Rasulullah của chúng ta và nói, “Hỡi Rasulallah! Chúng tôi không có ngựa! Chúng tôi cũng không có gì để ăn! Chúng tôi muốn đi với Ngài trong trận chiến này và đạt được phần thưởng của cuộc thánh chiến.” Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta buồn bã thông báo với họ rằng Ngài không còn con vật nào để họ cưỡi nữa. Một lần, Salim ibn Umayr, Abdullah ibn Mugaffal, Abu Laila Mazini, Ulba ibn Zayd, Amr ibn Humam, Harami ibn Abdullah và Irbad ibn Sariya đã đến gặp Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta và yêu cầu điều tương tự. Khi Giáo chủ của chúng ta nói với họ trong nỗi buồn lớn, “Ta không thể tìm thấy bất cứ thứ gì cho các người cưỡi”, họ bắt đầu khóc vì nỗi buồn khi phải xa Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta và không thể tham gia cuộc thánh chiến. Sau đó, Allahu ta'ala đã truyền xuống ayat al-karima, bằng maal, “(Hỡi Rasul của Ta!) Khi họ đến với Ngươi (để tham gia cuộc thánh chiến), Ngươi đã nói với họ, ‘Ta không thể cho các ngươi đi chuyến này.’ Họ quay về với đôi mắt ướt đẫm, buồn bã vì họ không có gì làm được gì cho mục đích này (và họ không thể tham gia trận chiến). Không có trách nhiệm (tội lỗi) gì đối với những điều đó.”5 Cuối cùng, Hadrat Abbas và Hadrat 'Uthman đã trang bị cho họ để tham chiến.

Khi công tác chuẩn bị hoàn tất, Giáo chủ, Tiên tri Rasul al-akram của chúng ta đã tập hợp quân đội trên Đồi Wada. Gần như không có ai mà không tham gia Thánh chiến. Khi Giáo chủ của chúng ta, tập hợp quân đội và quyết định di chuyển, Ngài đã để Muhammad ibn Maslama đại diện Ngài ở Medina.6 Khi sắp bắt đầu cuộc viễn chinh, Ngài nói, “Hãy mang theo giày để dự phòng. Miễn là có giày dự phòng, các ngươi sẽ không gặp phải rắc rối.”

“Ai thực hiện sadaqa ngày hôm nay, sadaqa của họ sẽ có lợi khi làm chứng cho họ trước Allahu ta'ala trong ngày phán xét.”
Hadith
ash-sharif

Khi hành quân, Abdullah ibn Ubayy, thủ lĩnh của các kẻ đạo đức giả, đã nói những điều vô lý để dọa người Muslim. Ông ta thậm chí còn nói, “Ta thề rằng như thể ta thấy được Ngài và Ashab của Ngài bị trói bằng dây thừng với nhau từng cặp...” Các Ashab al-kiram không để ý đến những lời đó, và lòng nhiệt thành của họ muốn tham gia thánh chiến ngày càng tăng. Các kẻ đạo đức giả đã trở nên thất vọng khi thấy điều này.

Khi Giáo chủ Rasulullah của chúng ta di chuyển từ Đồi Wada đến Tabuk, Ngài đã cho giương cao cờ và hiệu kỳ của quân đội. Ngài trao hiệu kỳ lớn nhất cho Hadrat Abu Bakr và một hiệu kỳ khác cho Hadrat Zubayr ibn Awwam. Ngài trao hiệu kỳ của bộ tộc Aws cho Usayd ibn Hudayr và hiệu kỳ của bộ tộc Khazraj cho Abu Dujana.7 Số lượng Ashab al-kiram dưới sự chỉ huy của Giáo chủ, tiên tri là ba mươi ngàn; trong đó là mười ngàn kỵ binh. Chỉ huy cánh phải là Hadrat Talha ibn Ubaydullah được bổ, và Hadrat Abdurrahman ibn Awf được phân công chỉ huy cánh trái.8 Trong thời tiết rất nóng, dưới sự chỉ huy của Tiên tri, các sahabi vinh quang đã tiến lên phía trước. Miễn là họ có Habib của Allahu ta'ala dẫn đầu, thì sự thiếu thức ăn và nước uống không thể ngăn họ trên con đường của mình, cũng như khoảng cách xa đến đích hoặc số lượng quân địch không thể làm họ sợ. Họ sẽ đi bất cứ đâu trong trạng thái này.

Ở mỗi điểm dừng, nghỉ ngơi một lúc, Vị tiên tri yêu dấu của chúng ta cùng các sahabi anh hùng lại tiếp tục lên đường. Điểm dừng chân thứ tám là tại Hijr, nơi người dân Salih 'alaihis-salam đã bị tiêu diệt. Allahu ta'ala đã tiêu diệt họ bằng một âm thanh dữ dội vì họ không nghe theo lệnh của Vị tiên tri. Vua của vũ trụ đã nói với các Ashab, “Đêm nay, từ hướng ngược lại có một cơn bão lớn sẽ thổi đến. Không ai được đứng lên nếu không có bạn cùng đi. Đầu gối con lạc đà của mình phải được buộc chặt. Đây là nơi mà sự đoạ đày đã giáng xuống. Không ai được phép uống hoặc hành lễ bằng nước ấy!” Mọi người đều nghe theo lệnh. Vào ban đêm, một cơn bão lớn đã nổi lên và tàn phá khắp mọi nơi. Lúc ấy, có một người đã quên buộc chặt con lạc đà đã đứng lên để tìm kiếm nó. Anh ta bị cơn bão thổi bay và bị ném xuống chân núi Tayy. Một người khác phải một mình đi giải cứu. Khi anh ta đến nơi để giải cứu, anh ta đã mắc phải một căn bệnh gọi là Hunnak (ho gà). Anh đã lấy lại sức khỏe sau khi Giáo chủ, Tiên Tri, cầu nguyện cho anh ta.

“Insha-Allah, các người hãy đến suối Tabuk vào giữa buổi sáng ngày mai. Đừng động vào nước ấy, hãy chờ ta đến.”
Hadith
ash-sharif

Sáng hôm đó, trong các bầu nước không còn giọt nào. Mọi người đều sắp chết khát. Bọn munafiq (kẻ đạo đức giả) thấy đây là cơ hội để gây chia rẽ và nói: “Nếu Muhammad thật sự là một vị tiên tri, thì Ngài đã cầu nguyện và khiến mưa rơi xuống.”

Khi Vị Chủ Tể của vũ trụ nghe những điều như vậy, Ngài giơ đôi tay ân phước của mình lên và cầu xin Allahu ta’ala cho mưa. Bầu trời nóng nực và không một gợn mây đột nhiên xuất hiện những đám mây mưa. Mưa lớn bắt đầu. Mọi người đổ đầy túi nước mang theo, thực hiện thanh tẩy và cho gia súc uống nước. Khi mây tan mưa tạnh, người ta thấy rằng mưa chỉ rơi ở chỗ đội quân ấy. Vị Tiên tri yêu dấu của chúng ta và các sahabi đã đọc takbir. Họ ca ngợi Allahu ta’ala. Họ nói với những người đạo đức giả, “Các người chẳng còn lý do gì để nguỵ biện nữa. Hãy tin vào Allahu ta’ala và Rasul của Người và hãy trở thành những người Muslim ngoan đạo!” Nhưng những người đạo đức giả khốn khổ trả lời, “Thì sao? Trời mưa và tạnh ngay khi một đám mây đang trôi qua!”

Cơn đói đã đến điểm tận cùng. Đến nỗi hai người phải chia nhau một quả chà là. Họ đã đến Tabuk mặc dù trời nóng, đói và khát. Giáo chủ Habib al-akram (sallAllahu ‘alaihi wa sallam) chúng ta nói, “Insha-Allah (Nếu Allahu ta’ala muốn), các người sẽ đến suối Tabuk vào giữa buổi sáng ngày mai. Đừng chạm vào nước đó, cho đến khi ta đến.” Ngày hôm sau, họ đã đến đó. Suối có rất ít nước. Tiên tri đáng kính của chúng ta lấy một ít nước từ suối vào một cái bình, và Ngài đặt bàn tay ân phước của mình vào đó và cầu nguyện. Sau đó, Ngài đổ nước vào suối. Nước đột ngột dâng lên. Mặc dù toàn bộ quân Islam gồm ba mươi ngàn người đã uống, nhưng nước vân không hề vơi đi chút nào. Sau đó, mọi nơi ở đó đều được tưới bằng nguồn nước này, thật là một phép màu của Giáo chủ Fakhr al-kainat của chúng ta. Khu vực đó trở nên một đồng bằng xanh tươi và ngập tràn sự sung túc.

Khi Giáo chủ Rasul al-akram của chúng ta đến Tabuk với Ashab vinh quang của Ngài, họ không thể tìm thấy quân La Mã gồm người Byzantine và các bộ lạc Ả Rập Cơ đốc như Amila, Lahm và Juzam. Tại Muta, một đội quân La Mã gồm một trăm ngàn người đã phải chịu thất bại trước ba ngàn chiến binh mujahid. Bây giờ, có ba mươi ngàn chiến binh mujahid chống lại họ, và chỉ huy của họ là Chủ tể của thế giới. Khi người La Mã nghe tin rằng Vị tiên tri yêu dấu của chúng ta đã tập hợp Ashab anh hùng của Ngài và đến, tất cả họ đều tìm chỗ trốn thoát.

Sau khi hỏi ý kiến ​​của các Ashab, Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã không đi xa hơn Tabuk. Trong khi đó, một số bộ tộc và bang trong khu vực đó nghe tin rằng quân đội Islam sẽ đến. Vì sợ hãi, họ đã cử các phái đoàn đến gặp Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, và xin được an toàn bằng cách trả jizya. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã thương hại và chấp nhận lời đề nghị của họ. Các điều khoản thỏa thuận riêng biệt đã được viết ra với mỗi người, và họ được thông báo rằng mình đã được an toàn.

Giáo chủ Sarwar al-kainat (‘alaihi afdalus-salawat) của chúng ta đã đợi kẻ thù gần hai mươi ngày. Ngài đã có nhiều cuộc trò chuyện với các Ashab al-kiram ở Tabuk và rửa sạch trái tim họ với biển ánh sáng. Ngài đã tưới fayz (kiến thức tâm linh) và những phước lành phát ra từ trái tim ân phước của Ngài vào trái tim họ. Trong một trong những bài nói chuyện độc đáo của mình, Ngài đã hỏi, “Ta có nên cho các người biết về những điều tốt nhất và đáng quý nhất của con người không?” Ashab al-kiram trả lời, “Vâng, hỡi Rasulallah!” Khi nghe vậy, Ngài nói, “Điều tốt nhất của con là người ấy làm việc trên con đường của Allahu ta'ala cho đến hơi thở cuối cùng, trên lưng ngựa hoặc lạc đà hoặc trên hai chân của mình. Điều tệ hại của con người là người ấy đọc quá nhiều kinh sách của Allahu ta'ala mà không thể hưởng lợi gì từ nó cả.”

Với một người hỏi về sự tử vì đạo, Ngài nói, “Ta thề trước Allahu, Đấng nắm giữ sự tồn tại của ta trong tay Người, rằng vào ngày Phán xét, những người tử vì đạo sẽ đến với thanh kiếm đeo trên lưng. Họ sẽ ngồi trên ngai vàng của nur (ánh sáng).9

Nhiều phép lạ của Giáo chủ, Vị Tiên Tri đã được chứng kiến ​​trong chuyến viễn chinh này. Thật vậy, vào thời điểm chuẩn bị để từ Tabuk trở về Medina, các sahabi đói đến mức không thể chịu đựng được, đã trình bày vấn đề này với Giáo chủ, Vị Tiên Tri. Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã gom phần thức ăn còn lại trên một tấm vải da. Những thứ này chỉ đủ lấp đầy một cái nồi nhỏ. Giáo chủ Sarwar al-alam (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) của chúng ta đã làm thanh tẩy lại và thực hiện một lễ nguyện gồm hai rak’at. Ngài dang rộng đôi tay ân phước của mình và cầu nguyện cho thức ăn được dồi dào. Sau đó, Ngài ra lệnh cho các Ashab mang những thùng chứa của họ. Tất cả đều được lấp đầy đến mức trong đội quân khổng lồ không có thùng chứa nào bị bỏ trống. Hơn nữa, thức ăn trên tấm vải vẫn không hề ít đi, dù cho tất cả các thánh chiến binh đã ăn cho đến khi no nê.

Chuyến viễn chinh của Khalid ibn Walid tới Dumatu’l-Jandal

Trong khi Hadrat Habib al-akram (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) ở Tabuk, Ngài đã phái Khalid ibn Walid (radiy-Allahu ‘anh) đến Dumatu’l-Jandal. Người cai trị ở đó, Akidir ibn Abdulmalik, là người theo đạo Thiên chúa. Những người lính Hồi giáo đã tiếp cận pháo đài và nằm chờ. Khi tin tức về một đàn gia súc núi đến trước pháo đài đến tai Akidir, ông đã nhảy lên ngựa và đi săn nó. Trong khi Akidir, anh trai Hassan và nhóm của ông đang săn bắn, các chiến binh thánh chiến đã bao vây họ. Khi Hassan cố gắng rút kiếm, ông đã bị giết. Akidir bị bắt làm tù binh. Những người khác đã chạy trốn và trú ẩn trong pháo đài. Hadrat Khalid nói với Akidir, “Ta sẽ giữ an toàn cho ông và đưa ông đến gặp Rasulullah. Nhưng với điều kiện này: Ông sẽ đến pháo đài và mang theo hai nghìn con lạc đà, tám trăm con ngựa, tám trăm tấm khiên và bốn trăm ngọn giáo. Ông vẫn sẽ là người cai trị.” Akidir chấp nhận. Họ đến pháo đài, lấy chiến lợi phẩm và đến Medina. Akidir và anh trai Hasar được chấp nhận trong sự hiện diện cao quý và trở thành người Muslim.

Phục kích

Những chiến binh mujahid đã rời Tabuk và tiến về Medina. Những chiến binh munafiq đã đồng ý với nhau sẽ phục kích và giết Vị tiên tri đáng kính của chúng ta. Một đêm nọ, họ phục kích trong một lối đi hẹp trên con đường của những người lính Hồi giáo. Ammar ibn Yasar kéo dây cương lạc đà của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, và Hadrat Huzayfa ibn Yaman đang đi sau Ngài. Jabrail ‘alaihis-salam thông báo rằng những chiến binh munafiq đã âm mưu một vụ ám sát. Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đến gần lối đi, Ngài nói với quân đội, “Các người hãy vào thung lũng, nơi đó dễ đi và rộng hơn.” Trong khi Ngài tiến về phía lối đi hẹp, quân đội đã tiến vào thung lũng. Khi Rasul al-akram (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) đến gần lối đi, nhóm munafiq này đã che mặt và tấn công. Hadrat Huzayfa đã hét lên, “Hỡi kẻ thù của Allahu ta’ala!” và bắt đầu đánh bọn đạo đức giả và gia súc của chúng bằng cây gậy trong tay. Hoảng sợ trước những tiếng la hét này, mười hai tên đạo đức giả ngay lập tức lẫn vào hàng ngũ lính. Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã thông báo cho Hadrat Huzayfa về tên của họ và cảnh báo ông ta không được nói với người khác.

Khi nghe về sự việc đó, Hadrat Usayd ibn Hudayr bước lên và khẩn thiết thưa rằng: “Nguyện mạng sống của con hiến dâng cho Ngài, hỡi Rasulallah! Xin hãy nói cho con biết họ là ai, để con mang đầu của họ về cho Ngài!” Tuy nhiên, Rasulullah (sallallahu ‘alaihi wa sallam) đã không cho phép điều đó.10

“Ta thề trước Allahu ta’ala, người nắm giữ sự hiện hữu của ta trong tay mình, rằng vào ngày Phán xét, những người hy sinh vì đạo sẽ đến với thanh kiếm đeo trên lưng. Họ sẽ ngồi trên ngai vàng của nur.”
Hadith
ash-sharif

Thánh đường al-Dirar

Sau khi làm cho người Byzantine sợ hãi và phá vỡ sự kháng cự của họ, Tiên tri kính yêu của chúng ta và Ashab anh hùng của Ngài cuối cùng đã tiếp cận được Medina rực rỡ. Sultan của vũ trụ đã ra lệnh cho Ashab đóng trại tại một nơi gọi là Zi-awan, rất gần Medina. Trong khi các sahabi đang nghỉ ngơi, một vài munafiq đã đến và yêu cầu Tiên tri kính yêu của chúng ta tôn vinh Thánh đường al-Dirar.

Thánh đường al-Dirar nằm ở Quba. Nó được xây dựng bởi những người đạo đức giả đối diện với nhà thờ Hồi giáo đầu tiên mà Giáo chủ Rasulullah chúng ta đã xây dựng tại Quba trong quá trình di cư đến Medina. Trong khi Nhà tiên tri yêu dấu của chúng ta đang đi đến Tabuk với Ashab của Ngài, những người đạo đức giả đã đến gặp Ngài và mời Ngài bằng những lời rằng, “Hỡi Rasulallah! Chúng tôi đã xây dựng một nhà thờ Hồi giáo mới. Ngài có thể vinh dự ở đó và dẫn dắt chúng tôi cầu nguyện không?” Nhưng Chủ tể của các thế giới, người đang trong một cuộc viễn chinh, đã trả lời rằng nếu được, Ngài có lẽ sẽ đến thăm khi Ngài trở về từ Tabuk.

Mục đích của những người đạo đức giả là chia rẽ cộng đồng Hồi giáo, lợi dụng họ cho mục đích riêng, gây ra xung đột và khiến họ chống lại nhau. Họ thậm chí còn mời những người lính Byzantine đến Medina và giúp họ với các vũ khí được lưu trữ trong masjid này. Bằng cách đảm bảo rằng Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta thực hiện lễ nguyện ở đó, ấn tượng rằng Masjid al-Dirar là một nơi linh thiêng sẽ được tạo ra. Do đó, người Muslim sẽ tranh nhau để thực hiện lễ nguyện tại nơi đó và - cho là - rơi vào bẫy của những người đạo đức giả!

Giáo chủ Sarwar al-alam (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) của chúng ta đã chấp nhận lời mời này của những người đạo đức giả và quyết định đi. Allahu ta’ala đã truyền ayat thứ 107 và 108 của Surah at-Tawba và truyền đạt sự thật của vấn đề. Sau đó, Chủ tể của vũ trụ đã nói với Malik ibn Duhshum và Asim ibn Adiy, “Hãy đến masjid có những người tàn ác! Hãy phá hủy và đốt nó đi!” Giữa buổi cầu nguyện namaz chiều và tối, họ đã đi và đốt tòa nhà. Sau đó, họ phá hủy nó và san phẳng nó thành bình địa. Những người đạo đức giả không nói gì cả.11 Khi nghe tin Giáo chủ, Tiên Tri và Ashab vinh quang của Ngài sắp đến, người dân Medina ngay lập tức tụ tập lại và ra đón họ với sự phấn khích tột độ...

Cái chết của Abdullah ibn Ubayy

Hai tháng sau khi Vị tiên tri đáng kính của chúng ta từ cuộc viễn chinh Tabuk trở về, vào tháng Shawwal, Abdullah ibn Ubayy, thủ lĩnh của bọn đạo đức giả qua đời. Sự thống nhất của munafiq đã tan vỡ và họ đã giải tán sau đó.12

Vì vậy, không những người đạo đức giả mà cả những người đa thần giáo và người Do Thái ở Ả Rập đều bị ngăn chặn, các phong trào phản đối và ngăn cản Islam của họ cũng đã bị dập tắt.

Các sự kiện khác xảy ra trong năm Hegira thứ chín

Khi Rasulullah đến Tabuk, đầu tiên là người cai quản Ayla, sau đó là người cai quản Jarba đến và cống nạp. Rasulullah đã ghi chép lại và trao tài liệu cho họ. Trong chuyến viễn chinh này, Ngài đã gửi một lá thư cho Heraclius và lại mời ông ta vào Islam. Nhưng ông ta không có may mắn nhận được sự hướng dẫn.

Năm này, Umm Gulthum, con gái của Rasulullah, đã qua đời. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã dẫn dắt lễ cầu nguyện janaza namaz của cô, và trong khi cô được chôn cất, những giọt nước mắt từ đôi mắt phước lành của Ngài đã rơi xuống mộ cô.

Sanat al-wufud (Năm của các sứ giả)

Sau khi Giáo chủ Sarwar al-alam (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) của chúng ta trở về từ cuộc viễn chinh Tabuk, Ngài đã phái các sứ giả đến nhiều quốc gia khác nhau và mời họ theo Islam. Người dân Oman và Bahrain đã được vinh danh khi trở thành người Muslim.

Bây giờ, Islam đang lan rất nhanh. Các giảng viên được gửi đến các bộ lạc và tiểu bang xung quanh để dạy họ các nguyên tắc của Islam, và các thống đốc được gửi đến để cai quản họ.

Vào năm Hegira thứ chín, nhiều phái đoàn đã cải đạo sang Islam đã đổ xô đến Medina. Các phái đoàn từ nhiều bộ tộc đã đến và tuyên bố quy thuận đối với Vị chủ tể của thế gian, và do đó họ đã đạt được hạnh phúc. Vì số lượng lớn các sứ giả, năm này được gọi là Sanat al-wufud (Năm của các sứ giả).

Hễ khi nào có sứ giả đến, Rasulullah đều mặc quần áo quý giá. Ngài cũng sẽ cho các Ashab cũng mặc quần áo đẹp. Ông sẽ tiếp đón họ ở một nơi trang trọng. Ngài sẽ tổ chức tiệc và chia tay họ với nhiều quà tặng. Và họ sẽ vui vẻ ra về với lòng biết ơn và ngợi ca.

Một trong số đã cử sứ giả là bộ tộc Bani Murra. Họ đã cử đoàn sứ giả gồm mười ba người. Họ tuyên bố bộ tộc của mình đã trở thành người Muslim. Họ nói rằng quê hương của họ không có mưa, không cỏ mọc và họ đang có nạn đói nghiêm trọng. Họ đã yêu cầu Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) cầu nguyện để chấm dứt nỗi thống khổ của họ. Ngài đã cầu nguyện, “Lạy Rabb, xin cho họ được toại nguyện với mưa.” Khi các sứ giả Bani Murra quay trở về bộ tộc mình, họ thấy người dân của họ đã hoàn toàn được giải thoát nỗi thống khổ. Bởi vì, trời đã mưa rất to vào ngày Rasulullah cầu nguyện cho họ. Nó chính xác hoàn toàn với thời điểm cầu nguyện.

Mười người từ bộ tộc Bani Asad đã đến và mong được ơn để trở thành người Muslim. Họ nói, “Chúng tôi đến từ nơi xa xôi trong một năm đói kém. Chúng tôi đã trở thành người Muslim theo ý muốn của riêng mình mà không cần lính đến chỗ chúng tôi.” Câu thứ mười bảy của Surah al-Hujurat đã khải xuống họ.

“ Hỡi Rabb, xin hãy cho họ được toại nguyện với việc mong mưa .”
Hadith
ash-sharif

Mu’awiya tabni Savr ibn Ubada ibn Bikar, thủ lĩnh phái đoàn Bani Bikar, đã một trăm tuổi. Con trai của ông là Bushayr, Majma’ ibn Abdullah và Abd al-Amr ibn Asam cũng cùng ông. Ông đã yêu cầu Rasulullah chạm vào tứ chi của con trai ông bằng đôi tay ân phước của Ngài. Ông nói, “Ngài đã đối xử với tôi một cách tôn trọng và rất tốt với tôi.” Rasulullah chạm vào mặt của Bushayr bằng đôi tay ân phước của Ngài và tặng họ nhiều dê. Ngài cũng đổi tên của Abd al-Amr thành Abdurrahman.

Phái đoàn Bani Najib có mười người. Họ đã mang theo zakat của cải và súc vật. Khi họ đến Rasulullah rất vui mừng. Ngài lệnh cho họ nghỉ ngơi ở một chỗ tốt. Tình cảm của Rasulullah dành cho Sứ giả Najib ngày càng lớn khi ông hỏi rất nhiều về fard và sunnah. Ngài càng thêm tôn trọng và lòng hiếu khách của mình càng tăng đối với ông. Ngài đối xử với ông khác với những sứ giả kia. Khi Ngài nhận thấy chàng trai trẻ đang ở đằng kia cùng với đồ đạc đã quay lưng lại với mọi thứ khác ngoài Allahu ta'ala, Ngài đã cầu nguyện cho anh ta được ban phước. Ngài tặng anh ta những món quà như những người khác. Nhóm đó đã vui vẻ như mong ước và trở về bộ lạc của mình.

Một nhóm từ Bani Kanana đã đến và trở thành người Muslim. Người lãnh đạo của họ là Vasila tabni Aska’. Khi ông đến, Rasulullah đang chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Tabuk. Sau khi ông thực hiện bi’at, ông trở về bộ tộc của mình. Cha ông không trở thành người Muslim, nhưng chị gái ông thì có. Ông đã đến Medina và theo đoàn viễn chinh Tabuk. Ông đã bắt kịp Rasulullah. Ông được cử đến cuộc chiến giữa Hadrat Khalid và Akidar. Nhiều con lạc đà đã được chia phần cho ông.

Từ Bani Saide, Damam ibn Sa'laba đã đến. Ông đến gặp Rasulullah và hỏi Ngài nhiều câu hỏi về lễ nguyện, ăn chay, hajj và zakat. Khi câu hỏi của ông kết thúc, ông nói, “Tôi tin, tôi tin mọi thứ Ngài mang đến từ Allah.” Ông đến với người dân của mình và truyền bá Islam. Toàn bộ bộ tộc đó đã trở thành người Muslim.

Hỡi Rasulallah! Nếu ai đó không hôn,
Đất đã chạm vào chân nô lệ của cổng nhà Ngài,
Và nếu anh ta không hy sinh mạng sống vì hạnh phúc ấy,
Người ấy không yêu Ngài; tôi sẽ không tin lời người ấy.
Tôi sẽ biến đất mà Ngài đã chạm lên đỉnh đầu của tôi,
Tôi sẽ hôn và xoa nó lên mặt, làm phương thuốc cho trái tim tôi,
Tôi sẽ xem nó là ngọn nến chỉ đường chân đạo,
Và tôi sẽ bước trên con đường của Ngài, ngưỡng mộ và yêu Ngài.
Tôi ngửi thấy mọi làn gió thổi từ con đường của Ngài,
Tìm kiếm một dấu vết của mùi hương đáng yêu của Ngài,
Cầu mong vợ con tôi được hy sinh vì Ngài,
Họ hàng, mẹ, cha, và hàng ngàn mạng sống khác.
Mawlana Khalid, người thực sự ngưỡng mộ Ngài, nói,
Hỡi Vũ trụ vương, hỡi người được địa cầu yêu thương!
Tôi có một cuộc đời từ Ngài, đó là món quà của Ngài dành cho tôi,
Tôi thậm chí không thể nói rằng tôi mang một cuộc đời để hy sinh.

Mawlana Khalid al-Baghdadi

Cảnh đêm của Ka'ba al-Mu'azzama

“ Có những dấu hiệu rõ ràng ở đó (trong Ka’ba) và là nơi của Ibrahim. Hễ ai vào đó sẽ an toàn không bị tấn công. Đó là một trong những quyền năng của Allahu ta’ala dành cho mọi người, là một mệnh lệnh của Người, rằng những ai có thể đến đó được (những ai có khả năng) hãy thực hiện hajj đến (và thăm) Bayt đó.” Al-i ‘Imran: 97