Vị Tiên tri Kính yêu của tôi

PHẦN BA
Tôn giáo Islam

“Islam đã thu thập sa’adat ad-darayn, đó là hạnh phúc của thế giới này và akhirat trong chính nó.” Sayyid Abdulhakim Arvasi (rahmatullahi ’alaih)

Chương này bao gồm những phần trích từ các cuốn sách Endless Bliss, Belief and Islam, Ethics of Islam, The Rising and the Hereafter, và Book of Namaz, được phát hành bởi Ihlas Vakfi Hakikat Kitabevi (Xuất bản). Tôn giáo Islam là chính lộ và những quy định mà Allahu ta’ala thông qua một thiên thần Jabrail đã ban cho Vị tiên tri yêu dấu của Người là Muhammad ’alaihis-salam, để mọi người có được niềm vui và hạnh phúc ở thế gian này và đời sau. Mọi sự cao cả và mọi điều lợi ích đều có trong Islam. Tất cả những điều tốt đẹp hữu hình và vô hình của các tôn giáo trước đó đã tập hợp trong chính nó. Nó bao gồm mọi loại hạnh phúc và thành công, các nguyên tắc và akhlaq (đạo đức, luân lý) mà người minh mẫn, không sai lẫm sẽ chấp nhận. Những người có tâm lương thiện sẽ không từ chối hoặc ghét nó. Không có hại nào tìm thấy trong Islam, và không có lợi ích nào được thấy bên ngoài Islam. Nghĩ rằng sẽ có bất kỳ lợi ích nào bên ngoài Islam có nghĩa là mong chờ được mãn nguyện từ một ảo ảnh. Islam khuyên ta cải thiện đất nước và quan tâm đến mọi người và yêu cầu chúng ta theo các điều răn của Allahu ta’ala và thể hiện tình thương với các sinh vật. Islam hướng dẫn đầy đủ về nông nghiệp, thương mại và nghệ thuật, coi trọng kiến ​​thức, khoa học, kỹ thuật và công nghiệp. Nó yêu cầu mọi người giúp đỡ và chăm sóc nhau. Nó cho ta biết về quyền của cá nhân, trẻ em, gia đình và các dân tộc, và nó tuân thủ quyền và trách nhiệm đối với người đang sống, người đã chết và các thế hệ tiếp nối; đối với tất cả mọi người. Islam là tập hợp sa’adat ad-darayn, nghĩa là hạnh phúc của thế gian này và đời sau trong đó. Nó đã đưa ra các nguyên tắc để có được hạnh phúc về mặt đạo đức và thể chất. Nó đã trình bày các quyền và nghĩa vụ của con người theo nghĩa rộng nhất. Tóm lại, Islam dựa trên nền tảng là iman (tín ngưỡng), ibadat (thờ phượng), munakahat (các kiến ​​thức chi tiết của Islam về kết hôn, ly hôn, việc cấp dưỡng và nhiều vấn đề khác), muamalat (các chi tiết của kiến ​​thức Islam về mua, bán, cho thuê, đồng sở hữu, quyền lợi, thừa kế, đời sống xã hội, v.v.), uqubat (hình luật và hình phạt).

Rabb của tôi là Huda, Tiên tri của tôi là Muhammad Rasulullah,
Đạo của tôi là Islam, kinh sách của tôi là lời của Allah,
Madhhab của tôi là Ahl as-sunnah trong đức tin của tôi, cảm ơn Allah,
Madhhab mà tôi tuân theo là madhhab của Abu Hanifa, wallah.

MỘT LỜI KHUYÊN

Này bạn, chàng trai trẻ! Sau đây là Tín điều của Sunni,

Được viết thành thơ và diễn đạt một cách rõ ràng:

Nếu bạn muốn có một đức tin đúng đắn, hỡi anh em của tôi,

Hãy đọc cuốn sách này ngày đêm với sự thành tâm chú ý!

Cầu mong Haqq ban phước cho linh hồn của Abu Hanifa với lòng trắc ẩn,

Vì ông đã hướng dẫn chúng ta về Kinh Qur'an để được cứu rỗi!

Đừng lưu luyến thế gian, cuộc sống sẽ trôi rất nhanh;

Hạnh phúc mãi mãi nằm ở việc theo Islam.

Trước tiên, hãy học ilmihal và dạy con cái của bạn;

Nếu không, sự thất vọng của bạn sẽ không thể chịu đựng nổi!

Hãy nhìn để thấy kẻ thù mưu mô biết mấy khi tấn công;

Đừng lãng phí thời gian để làm cho Islam lan rộng!

Những kẻ vô tín dùng lời dối trá với thanh niên để phá hoại Islam;

Hãy thức dậy, hỡi chàng trai trẻ, đừng thụ động nữa!

Người Muslim cũng bối rối và nhiều người trong số họ bị mắc bẫy;

Họ đều là ahl al-qibla nhưng đã rời xa chính đạo.

Nếu không học ilmihal, người ta không thể tự vệ.

Không phải là Ahl as-sunnah sẽ hoài nghi hoặc đi sai lệch!

Hãy hỗ trợ những ai truyền bá chân kiến ​​thức!

Đạt được phần thưởng jihad, hãy sử dụng tài sản của bạn cho mục đích đó!

Rasulullah đã bao giờ dừng lại, các Ashab của Ngài đã ngủ chưa?

Họ đều là những anh hùng đối với việc truyền bá Islam!

Ta cũng phải thế, vì kẻ thù rất mạnh, hãy cố gắng hơn nữa;

Để hủy hoại Islam, chúng tấn công từ mọi hướng.

Đừng nói xấu Ashab, hãy trân trọng tất cả họ,

Kinh Qur'an là bằng chứng cho tình yêu của họ dành cho nhau!

Abu Bakr là người cao nhất, rồi đến 'Umar; 'Uthman, Ali,

Hãy thêm yêu Mu'awiya; ông đã viết phiên bản Qur'an!

Rabb không phải là vật chất; Người ở ngoài thời gian và không gian;

Người không có bản chất, nên là niềm tin của người Muslim!

Người không cần sinh vật cũng không có sự giống nhau;

Người tạo ra tất cả và duy trì mọi sáng tạo.

Tốt, xấu; đức tin, sự hoài nghi; vật chất, sức mạnh, năng lượng;

Người tạo ra tất cả; vượt xa con người đang sáng tạo!

Người ban cho mọi người ý chí và trí tuệ, cũng như sự hướng dẫn.

Bất kỳ ai muốn điều tốt sẽ đạt được sự sáng tạo của Rahman.

Trước tiên, hãy sửa đổi đức tin của bạn, tuân thủ các mệnh lệnh và lệnh cấm;

Bất kỳ ai rời bỏ Islam sẽ không bao giờ đạt được sự cứu rỗi!

Đó luôn là quy tắc: Bạn gặt những gì bạn gieo;

Hy vọng vào lúa mì mà không gieo sẽ mang lại sự thất vọng!

Chỉ người Sunni được cứu rỗi trong số bảy mươi ba nhóm;

Chính là họ đã dẫn chúng ta theo hướng đi của Rasulullah

ĐỨC TIN AHL AS-SUNNAH

“Cộng đồng của ta sẽ chia thành bảy mươi ba nhóm. Chỉ có một nhóm trong số những nhóm đó sẽ được cứu khỏi Địa ngục, còn những nhóm khác sẽ bị diệt vong; họ sẽ đến Địa ngục.” Hadith ash-sharif

Yêu cầu đầu tiên để trở thành một người Muslim là phải có iman (niềm tin, đức tin). Niềm tin đúng đắn phụ thuộc vào việc tin theo tín điều của Ahl as-sunnah. Nhiệm vụ đầu tiên của những người đàn ông và phụ nữ có đầu óc minh mẫn và đang dậy thì là tin như Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) đã tin và thông báo. Vị tiên tri của chúng ta chỉ thông báo cho một đức tin. Tất cả Ashab al-kiram đều tin như Ngài đã nói và không có sự chia rẽ trong itikad (niềm tin).

Sau khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta qua đời, mọi người đã học Islam bằng cách lắng nghe và hỏi từ Ashab al-kiram. Tất cả họ đều đưa ra chỉ một đức tin. Người ta nên học kiến ​​thức về đức tin được viết trong các sách của các học giả Ahl as-sunnah và tin theo đó. Để đạt được sự cứu rỗi khỏi sự dày vò của Địa ngục trong akhirat có điều kiện là phải tin vào những gì họ truyền đạt. Những người sẽ được cứu khỏi Địa ngục chỉ là những người đi theo con đường của họ. Những người đi theo con đường của họ được gọi là (Sunni) hoặc (Ahl as-sunnah).

Trong hadith ash-sharif có nói rằng, “Chỉ một nhóm trong cộng đồng bảy mươi ba nhóm của Ta sẽ được cứu khỏi Địa ngục, những nhóm khác sẽ bị huỷ diệt; họ sẽ đi vào Địa ngục.” Mỗi nhóm trong đó đều tuyên bố tuân theo Islam và nói rằng họ chính là nhóm duy nhất sẽ được cứu khỏi Địa ngục. Có lời tuyên bố trong câu thứ 53 của Surah al-Mu’minun và trong câu thứ 32 của Surat-ur-Rum, bằng maal rằng, “Mỗi nhóm đều vui mừng, cho rằng mình đang đi theo chính đạo.” Tuy nhiên, trong số những nhóm khác nhau này, dấu hiệu, triệu chứng của nhóm sẽ được cứu được đưa ra bởi Vị tiên tri của chúng ta (sall-Allahu ’alaihi wa sallam) như sau, “Trong nhóm này gồm những người đi theo con đường mà Ta và các Ashab của Ta đi theo.” Người nào không yêu thương dù chỉ một trong những Ashab al-kiram đã đi chệch khỏi Ahl as-sunnah. Một người không giữ niềm tin vào Ahl as-sunnah thì trở thành một Ahl al-bid’at, một người Muslim đi chệch khỏi con đường đúng đắn hoặc một người không có đức tin.

Chỉ có một madhhab trong đức tin.

Có một nhóm người mà chỉ có một madhab trong đức tin. Madhab đó là Ahl as-sunnah wal-jama’at madhhab. Bởi vì Islam chỉ ra lệnh một đức tin cho tất cả mọi người.

Không có sự chia rẻ trong những điều để tin tưởng.

Các nguyên tắc của đức tin và cách tin tưởng đã được truyền đạt trực tiếp bởi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta ‘alaihis-salam. Vị tiên tri của chúng ta, người đã thông báo cho mọi người về Allahu ta’ala đã tạo ra họ và mọi thứ, cũng truyền đạt thế nào là đức tin đối với Allahu ta’ala, những gì Người tạo ra, các lệnh truyền và lệnh cấm của Người nên như thế nào. Cần phải tuân theo tất cả các Ashab al-kiram về những điều cần tin tưởng. Bởi vì họ không có bất kỳ sự chia rẽ nào với nhau về đức tin.

Điều kiện thực sự của đức tin là; yêu Allahu ta’ala và những người Người yêu và là kẻ thù của kẻ thù của Người. Về điều này, Hadrat Muhammad Ma’sum đã nói, “Allahu ta’ala nói, ‘Này Musa (Moses)! Ngươi đã làm gì cho Ta?’ Khi ngài ấy trả lời, ‘Hỡi Rab! Vì Người, tôi đã thực hiện lễ nguyện, nhịn ăn, bố thí zakat và nhắc đến tên của Người (dhikr),’ Allahu ta’ala nói, ‘Lễ nguyện là bằng chứng cho ngươi. Nhịn ăn là tấm khiên bảo vệ ngươi khỏi Địa ngục. Zakat sẽ che chở cho ngươi vào ngày tận thế khi mọi người đều bị thiêu đốt vì sức nóng. Dhikr sẽ là ánh sáng cho ngươi trong bóng tối vào ngày đó. Ngươi đã làm gì vì Ta?’ Sau đó, Hadrat Musa hỏi, ‘Hỡi Rab! Hành động nào dành cho Người?’ Allahu ta’ala nói, ‘Người đã yêu người mà Ta yêu vì Ta, ngươi đã biến kẻ thù của Ta thành kẻ thù của ngươi chưa?’ Hadrat Musa hiểu rằng hành động mà Allahu ta’ala yêu là yêu những người thân yêu của Người và không thích kẻ thù của Người. Như vậy, điều đó có nghĩa là dấu hiệu của tình yêu là yêu những ai mà người kính yêu quý bạn yêu và biến kẻ thù của họ thành kẻ thù của bạn. Câu thứ 4 của Surah al-Mumtahina bằng maal, cho thấy rằng để có đức tin thì sự thù địch này là cần thiết và việc yêu kẻ thù của Allah sẽ phá hủy đức tin, ‘Ibrahim và Ashab của ngài ấy đã nói với những kẻ vô tín: Chúng ta tránh xa các người và các thần tượng của các người. Sự thù địch giữa chúng ta sẽ vẫn còn cho đến khi các người tin vào Allah, Đấng duy nhất. Trạng thái tuyệt đẹp này của họ là một tấm gương tốt cho các người.’ Ashab al-kiram, những người được vinh dự lắng nghe Rasulullah, đã yêu thương nhau tha thiết. Họ là kẻ thù của những kẻ vô tín, chứ không phải của nhau. Câu thứ 29 của Surah al-Fath bằng maal là bằng chứng cho điều này, ‘Họ là kẻ thù của những kẻ vô tín, nhưng lại thương xót lẫn nhau.’” (câu thứ 29 của Hadrat Muhammad Ma’sum)

Trong chương thứ năm của cuốn Kimya-i sa’adat có viết: Rasulullah (sall Allahu ‘alaihi wa sallam) đã tuyên bố, “Nền tảng và dấu hiệu mạnh mẽ nhất của đức tin là yêu người Muslim và không thích kẻ thù của người Muslim.” Mệnh lệnh thiêng liêng của Janab al-Haqq bằng maal cho Isa (Jesus) ‘alaihi-salam là, “Dù cho ngươi có các hành động thờ phượng bằng tổng số sự thờ phượng mà tất cả các sinh vật trên trái đất và trên bầu trời thực hiện, thì nó cũng sẽ không có giá trị trừ khi ngươi yêu người mà Ta yêu và ngươi thù địch với kẻ thù của Ta.” Mọi người Muslim nên không thích kẻ thù của Allahu ta’ala và yêu những người tuân theo Islam. Ta thể hiện điều đó bằng lời nói của mình và nếu có thể, bằng hành động của mình. Ta không nên kết bạn với những người không vâng lời và fasiq (những người công khai phạm tội) và nên hoàn toàn tránh xa tất cả những tội nhân công khai quen thói. Ta càng nên tránh xa những kẻ tàn ác và những kẻ đàn áp người Muslim. Tuy nhiên, ta nên tha thứ cho những kẻ chỉ tự dày vò và phải chịu đựng sự dày vò của bản thân; điều này rất hữu ích. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã nói rằng con đường đúng đắn là đức tin mà các học giả Ahl as-sunnah đã truyền. Sau đó, chúng ta phải đoàn kết trong Ahl as-sunnah, trở thành anh em và yêu thương lẫn nhau.

Các tín điều bid’at không nên bị nhầm lẫn với bốn madhhab chân chính của Ahl as-sunnah trong ibadat (hành động, thờ cúng). Bốn madhhab nói rằng những madhhab khác đang đi đúng hướng và họ yêu thương nhau. Ngược lại, các tín điều bid’at đang gây chia rẽ người Muslim.

Các học giả Islam đã nói rằng bốn madhhab chân chính này không thể hợp nhất. Allahu ta’ala muốn các madhhab trong sự thờ phượng tách biệt, không thống nhất. Theo cách này, Người làm cho Islam trở nên dễ dàng. “Sự khác biệt về ý kiến ​​giữa các học giả trong cộng đồng của ta là một sự thương xót.” Hadith ash-sharif này nói rằng sự tách biệt là có lợi. Mặt khác, Allahu ta’ala ra lệnh trong đức tin có sự thống nhất. Ayat al-karima thứ 103 của Surah Al-i ‘Imran, bằng Maal, “Hỡi các tín đồ! Hãy giữ vững tôn giáo của Allah. Đừng chia rẽ!” Khi giải thích điều này, Hadrat Abussuud Effendi nói, “Đừng chia rẽ như Ahl al-kitab (những người tin vào các kinh sách cũ) đã làm và đi ra khỏi chân đức tin! Đừng đấu đá nhau và bị chia rẽ như các đã làm trong thời kỳ vô minh!” Hadrat Ibn Hajar al-Makki nói, “Những người theo bid’at là người lạc đức tin so với đức tin của Ahl as-sunnah. Bất kỳ ai bịa đặt điều gì đó mà không phù hợp với Islam đều là người giữ bid’at.” (Fatava al-hadithiyya) Những người tin theo Ahl as-sunnah là Ahl as-sunnah, và những người không theo đức tin đó là ahl al-bid’at hoặc những người vô đức tin. Allahu ta’ala hài lòng với những Muslim theo đức tin Ahl as sunnah. Có nhiều điều kiện để tin như thế.

“Điều căn bản và chỉ dấu mạnh mẽ nhất của đức tin là yêu người Muslim và không thích kẻ thù của người Muslim.” Imam al-Ghazali (rahmatullahi ’alaih)

Một số vấn đề quan trọng trong đức tin của Ahl as-sunnah

1- Cần phải tin vào sáu nguyên lý của đức tin, tức là tin vào sự tồn tại của Allahu ta’ala và Sự duy nhất của Người, Người không có đối tác hay đối trọng, các thiên thần của Người, các Kinh

Sách của Người, các Tiên tri của Người, cuộc sống của Akhirat (Đời sau), và rằng thiện (khair) và ác (sharr) đều từ Allahu ta’ala. (Những điều này được nêu trong lời cầu nguyện Amantu.)

2- Cần phải tin rằng Kinh Qur’an al-karim, là Cuốn Kinh cuối cùng và kết thúc do Người gửi xuống, là Lời của Allahu ta’ala.

3- Một tín đồ không bao giờ được nghi ngờ đức tin của mình.

4- Cần phải yêu thương hết mực tất cả các Ashab al-kiram đã được vinh danh vì tin tưởng và nhìn thấy Vị tiên tri của chúng ta (sall-Allahu ‘alaihi wa sallam) khi Ngài còn sống. Không bao giờ được nói xấu bốn Khalifa của Ngài, bất kỳ thành viên nào trong gia đình của Ngài hoặc những người vợ đáng kính của Ngài.

5- Tất cả các Ashab al-kiram đều thuộc về Thiên đàng. (Rafidhis nói rằng ngoài năm người trong số họ, tất cả các sahaba đều là những kẻ ngoại đạo. Tuy nhiên, trong Qur'an al-karim, có ghi rằng tất cả họ đều thuộc về Thiên đàng.)

6- Abu Bakr as-Siddiq là người đứng đầu của Ashab al-kiram.

7- Không nên coi ibadat (hành động thờ cúng) là một phần của đức tin. Không nên coi những người Muslim tin vào các lệnh truyền và điều cấm của Allahu ta’ala nhưng không thực hiện vì lười biếng là những kẻ vô tín. (Những người theo phái Wahhabi nói rằng sự thờ phượng là một phần của đức tin và những người không thực hiện lễ nguyện và phạm tội là những kẻ vô tín.) Một người coi haram là không quan trọng, không quan tâm đến chúng hoặc chế giễu Islam sẽ mất đức tin.

8- Không được gọi những người tự nhận mình là Ahl al-qibla (Islam) và tin vào Allahu ta’ala và Vị tiên tri Muhammad ’alaihis-salam là những kẻ ngoại đạo. Ngay cả khi họ có một số niềm tin sai lầm. Không được phép gọi những người Ahl al-qibla là những kẻ ngoại đạo. (Những người theo Wahhabi gọi tất cả mọi người trừ chính họ là những kẻ ngoại đạo.)

9- Được phép thực hiện lễ nguyện do mọi imam mà người ta không biết dẫn đầu đã phạm tội một cách công khai. Phán quyết này cũng có hiệu lực đối với các chỉ huy và thống đốc thực hiện lễ nguyện vào thứ Sáu và Eid.

10- Người Muslim không được nổi loạn chống lại chỉ huy hoặc chính phủ của họ. Nổi loạn cũng giống như gây ra fitna, và fitna gây ra nhiều tai họa khác nhau. Chúng ta cần cầu nguyện rằng họ sẽ làm việc thiện, và chúng ta nên khuyên họ - bằng những lời nhẹ nhàng - hãy tránh xa những việc làm đồi bại, tội lỗi của họ.

11- Trong khi thực hiện abdast (wudu, thanh tẩy), ngay cả khi không có lý do hoặc nhu cầu cấp thiết, cả nam và nữ đều được phép masah (xát tay ướt) vào mest (mest là loại giày không thấm nước che phủ phần bàn chân cần thực hiện thanh tẩy) thay vì rửa chân. Không được phép masah trên bàn chân trần hoặc tất.

12- Cần phải tin rằng Mi’raj (Hadrat Muhammad lên trời) diễn ra bằng cả thể xác và linh hồn. Bởi vì Ngài đã bay lên Mi’raj bằng cả linh hồn và thể xác của Ngài. Bất kỳ ai nói rằng, “Mi’raj là một trạng thái, tức là, nó xảy ra trong một giấc mơ,” đã đi chệch khỏi Ahl as-sunnah.

13- Đức tin không tăng hoặc giảm. (Độ sáng của nó tăng hoặc giảm.)

14- Kinh Qur'an al-karim không phải là một tạo vật (nó không được tạo ra).

15- Allahu ta'ala không có địa điểm cụ thể. Nghĩa là, không đúng khi nói và tin rằng một nơi nào đó là nơi của Allahu ta'ala. (Những người theo Wahhabi nói rằng Allah ở trên trời hoặc ở Arsh. Nói như vậy là không trung tín.)

16- Việc chất vấn và hành hạ trong mồ là đúng. Sự hành hạ trong mồ sẽ xảy ra với cả tâm hồn và thể xác. Việc viếng thăm mồ mả là jaiz (được phép). Istighasa, tức là đến mộ của các Tiên tri và awliya, cầu nguyện vì tình yêu của họ và cầu xin sự giúp đỡ của họ là jaiz. (Wahhabi gọi điều này là shirk, tức là chấp nhận một người nào đó không phải là Allah là thần. Vì lý do này, họ gọi người Sunni và người Shi’ là mushrik, những kẻ không tin.)

17- Chỉ có Allah biết điều chưa biết, điều không thấy được, và nếu Người muốn, Người sẽ thông báo cho các tiên tri và awliya của Người.

18- Karamat của awliya là sự thật. Karamat là những trạng thái phi thường được thấy ở những tôi tớ được Allah ta’ala yêu quý. Chúng là những thứ nằm ngoài Thông Lệ của Người. Nghĩa là, chúng nằm ngoài ranh giới của các định luật vật lý, hóa học hoặc sinh học. Karamat vô số đến mức không thể phủ nhận được.

19- Người bị giết hoặc tự tử sẽ chết vào lúc cái chết được định sẵn.

20- Các vị tiên tri không phạm tội.

21- Ngày nay, phải thuộc về một trong bốn madhhab chân chính.

22- Vị tiên tri đầu tiên là Adam ‘alaihis-salam, và Vị tiên tri cuối cùng là Muhammad ‘alaihis-salam. (Những người theo phái Wahhabi phủ nhận Hadrat Adam, Hadrat Idris, Hadrat Shis là các tiên tri. Họ nói rằng nhà tiên tri đầu tiên là Hadrat Nuh. Một số nhóm, những người gọi các nhà lãnh đạo của họ là rasul (nhà tiên tri), nói rằng nabi sẽ không đến nhưng rasul sẽ đến. Vì vậy, những người không tin tự gọi mình là rasul đã xuất hiện.)

23- Cần phải tin vào shafa’at (lời cầu bầu), cầu sirat, phán quyết cuối cùng và cán cân.

24- Linh hồn không chết. Linh hồn của người Muslim và những người vô tín đã chết có thể nghe được.

25- Cần phải tin vào các dấu hiệu của phán xét như Dajjal, Dabbat-ulard, Hadrat Mahdi se đến, Hadrat Isa sẽ giáng xuống từ trời, Mặt trời mọc từ phía Tây và các dấu hiệu khác của phán xét đã được kể.

“Ngày nay, thuộc về một trong bốn madhhab là wajib (bắt buộc) đối với tất cả Muslim. Những ai không ở một trong bốn madhhab là đi sai đường của Ahl as-sunnah. Những người rời xa Ahl as-sunnah sẽ trở thành những kẻ lệch lạc hoặc những kẻ vô đức tin.” Sayyid Ahmad Tahtawi (rahmatullahi ’alaih)

Hadrat Imam al-a’zam nói, “ta phải tin vào các dấu hiệu của phán xét như đã nói.” Maal của hadith ash-sharif, “Phán xét sẽ không xảy ra cho đến khi mặt trời mọc từ phía Tây. Khi đó, mọi người sẽ trở thành người Muslim, nhưng đức tin đó sẽ không có lợi cho họ.” (Bukhari, Islam) 26- Trong akhirat, ta sẽ thấy Allahu ta’ala. 27- Những kẻ không tin sẽ ở lại Địa ngục mãi mãi, và sự dày vò của họ sẽ không giảm bớt; quả thực, nó sẽ ngày càng tăng lên. 28- Vào ngày phán xét, các Tiên tri và những người Muslim tốt bụng, ngoan đạo sẽ cầu bầu. 29- Gửi phần thưởng của việc đọc Qur’an al-karim, ban sadaqa, và trên thực tế là tất cả các sự thờ phượng, cho linh hồn người chết có lợi cho họ và khiến sự dày vò của họ giảm bớt hoặc được dỡ bỏ. Tin vào tất cả những điều này là một dấu hiệu của việc ở trong tín điều Ahl as sunnah. (Những thông tin này được lấy từ Fiqh al-akbar, Nuhbat-ul leali, Maktubat ar-Rabbani, Riyad-un-nasihin, Faraid-ul-favaid.) Trong sự thờ phượng, có bốn madhhab là chân chính. Trong chương zabayih (động vật hiến tế) có các giải thích trong Durr al-mukhtar, Sayyid Ahmad Tahtavi đã viết, “Ngày nay, thuộc về một trong bốn madhhab là wajib (bắt buộc) đối với tất cả Muslim. Những ai không ở một trong bốn madhhab là đi sai đường của Ahl as-sunnah. Những người rời xa Ahl as-sunnah sẽ trở thành những kẻ lệch lạc hoặc những kẻ vô đức tin.” Một số kẻ thù của madhhab như Ibn Hazm, Shavkani, Abduh, Rashit Riza, Siddiq Hasan đã đẩy nhiều người Muslim vào con đường sai lệch vì họ cho rằng việc bắt chước là haram và gì đó, vì họ đã talfik (thu thập những phần dễ dàng của bốn madhhab và hợp nhất chúng).

Các imam của chúng ta trong niềm tin và thờ phượng

Trong số những người Tabi’in, những người học Islam từ các Ashab al-kiram, và những người Taba at-Tabi’in, những người học từ Tabi’in, một số người đã tiến bộ trong kiến ​​thức tôn giáo và trở thành những imam vĩ đại là mujtahid mutlaq (tuyệt đối).1 Họ trở thành chủ nhân của madhhab về sự thờ phượng, và các quy tắc xuất phát từ ijtihad của họ được gọi là madhhab của học giả. Vì hầu hết các madhhab của học giả này không được ghi lại thành sách nên chúng đã bị lãng quên. Chỉ có ijtihad của bốn imam vĩ đại được viết thành sách và được học trò của họ lưu giữ và truyền bá trong cộng đồng Islam. Những người chỉ ra con đường đúng đắn cho tất cả người Muslim trên trần gian và dạy chúng ta con đường của Muhammad ‘alaihis-salam không thay đổi và không tì vết là bốn người vĩ đại này. Họ là imam của chúng ta về madhhab trong sự thờ phượng. Người đầu tiên trong số họ là Imam al-a’zam Abu Hanifa Nu’man ibn Thabit (radiy-Allahu ‘anh). Ông là một trong những học giả vĩ đại nhất của Islam. Ông là người lãnh đạo của Ahl as-sunnah. Người thứ hai là Imam Malik ibn Anas, người thứ ba là Imam Muhammad ibn Idris Shafi’i, người thứ tư là Imam Ahmad ibn Hanbal (rahmatullahi ‘alaihim ajma’in). Ngày nay, ai không theo một trong bốn vị imam này sẽ gặp nguy hiểm lớn. Người ấy đã rời xa con đường đúng đắn. Hai trong số những học trò của bốn vị imam này đã rất tiến bộ về kiến ​​thức về đức tin. Do đó, madhhab trong đức tin đã trở thành hai. Hai vị này đã nêu ra đức tin theo Qur'an al-karim và hadith ash-sharifs. Những người truyền bá kiến ​​thức đức tin của Ahl as-sunnah, tức là Firka an-najiyya - tín điều cứu rỗi - cho thế giới là hai vị này. Người đầu tiên là Abu Mansur al Maturidi, và người kia là Abul Hasan Ali Ash'ari (rahmatullahi 'alaihima). Hai vị imam này đã truyền đạt cùng một đức tin. Một vài điểm khác biệt giữa họ là không đáng kể. Bản chất của chúng là như nhau. Các học giả về Islam được ca ngợi trong Qur'an al-karim và hadith ash-sharif. Trong một ayat al-karima, bằng maal, có nói rằng: “Những người biết có ngang bằng với những người không biết không?”2 Trong một ayat al-karima khác, bằng maal, “Hỡi người Muslim! Hãy hỏi những điều các ngươi không biết từ những người biết!”3

Trong hadith ash-sharif có ghi:

“Allahu ta’ala và các thiên thần cùng mọi tạo vật cầu nguyện cho những người Muslim dạy điều thiện cho mọi người.”
“Vào ngày phán xét, trước tiên là các tiên tri, kế đến là các học giả, rồi đến các bậc tử vì đạo sẽ cầu thay.”
“Này mọi người! Hãy biết rằng nhờ lắng nghe một học giả mà có được kiến ​​thức.”

“Học kiến ​​thức là một sự thờ phượng. Những người học và những người dạy kiến ​​thức sẽ được trao phần thưởng của jihad.”

“Dạy kiến ​​thức cũng như thực hiện sadaqa. Học kiến ​​thức từ một học giả tương đương với việc thực hiện lễ nguyện tahajjud.”

“Học kiến ​​thức có giá trị hơn tất cả các sự thờ phượng thêm. Bởi vì nó có lợi cho ta và những người ta sẽ dạy.”

“Người học cách dạy người khác sẽ được trao tặng phần thưởng của Siddiqs.” “Kiến thức là kho báu. Chìa khóa của nó là cầu xin.”

“Học và dạy kiến ​​thức.”
“Dạy kiến ​​thức như là sự cứu chuộc cho những tội lỗi.”
Ngài là adab, hoàn toàn đức hạnh,
Nur của Ngài soi sáng bóng tối,
Khatam al-Anbiya ấy,
Là Vị tiên tri yêu dấu của Ta.
Là nguồn gốc của các tiên tri,
Nơi nương tựa cho những người cô thế,
Là nguồn gốc của sự thương xót ấy,
Là Vị tiên tri yêu dấu của Ta.
Trên lưng Ngài, là con dấu của tiên tri,
Ngài là Nabi nhân từ nhất,
Ngài là lý do cho shafa’at,
Vị tiên tri yêu dấu của Ta.
Quyền lực duy nhất có thể chấm dứt,
Sự hỗn loạn ở nơi Mahshar ấy,
Người thông báo những điều từ tương lai,
Nhà tiên tri yêu dấu của Ta.

AHKAM AL-ISLAMIYYA (AHKAM AL-SHAR’IYYA)

“Hãy học kiến ​​thức. Tìm hiểu kiến ​​thức là một sự thờ phượng. Phần thưởng của thánh chiến được trao cho những người học dạy kiến ​​thức.” Hadith ash-sharif

Các điều răn và điều cấm của Islam được gọi là “Ahkam ash-Shar’iyya” hoặc “Ahkam al-Islamiyya”. Chúng còn được gọi là “Af’al al-Mukallafin”.

Ai được gọi là mukallaf

Đàn ông và phụ nữ có đầu óc minh mẫn và đã đến tuổi dậy thì được gọi là "Mukallaf". Người Mukallaf bắt buộc phải tuân thủ các điều răn và điều cấm của Allahu ta'ala. Trong tôn giáo chúng ta, những người mukallaf bắt buộc trước hết phải có đức tin, sau đó là thực hiện sự thờ phượng. Họ cũng phải tránh những việc làm haram (bị cấm) và makruh (không thích, xúc phạm). 'Aql (trí tuệ) là sự minh mẩn. Nó được tạo ra để phân biệt tốt và xấu. Con trai dậy thì khi chúng mười hai tuổi. Ta sẽ thấy những dấu hiệu một cậu bé đã dậy thì. Nếu không có những dấu hiệu này (không có tinh trùng), thì cậu bé sẽ được xem là đã dậy thì khi cậu bé tròn mười lăm tuổi. Tuổi dậy thì của bé gái là tròn chín tuổi. Nếu một bé gái không có dấu hiệu dậy thì (không bắt đầu có kinh nguyệt), thì cô bé ấy được xem là đã dậy thì khi tròn mười lăm tuổi.

Af’al al-mukallafin

Af’al al-mukallafin là tám: Fard, wajib, sunnah, mustahab, mubah, haram, makruh và mufsid.

1- FARD: Những điều mà Allahu ta’ala ra lệnh rõ ràng và chắc chắn trong Qur’an al-karim được gọi là fard. Việc từ bỏ fard là haram. Những ai không tin và không coi chúng là quan trọng sẽ trở thành những kẻ vô tín. Một số ví dụ về fard là có đức tin, thực hiện thanh tẩy, ghusl, năm lần salat mỗi ngày, ăn chay trong tháng Ramadan, bố thí zakat và đi hajj khi giàu có.

2- WAJIB: Những điều răn chắc chắn như fard. Thực hiện witr và Eid salat, hiến tế một con vật (qurban) và cho fitra (sadaqa al-fitr) khi giàu có. Tỷ lệ của Wajib giống như fard

3- SUNNAH: Những điều mà Allahu ta’ala không ra lệnh cụ thể nhưng là những điều mà Vị tiên tri của chúng ta khuyến khích, hoặc những hành động mà Ngài thường hay làm, hoặc những điều mà Ngài không cấm mặc dù Ngài có thấy, được gọi là “Sunnah”. Không thích một sunnah là kufr (vô đức tin). Không làm chúng không có tội lỗi, miễn là thích chúng. Tuy nhiên, bất kỳ ai liên tục không làm mà không có lý do chính đáng sẽ đáng bị tước mất phần thưởng và bị chê trách. Ví dụ, sunnah là đọc adhan, iqamat, thực hiện salat trong jama’at (tập thể), sử dụng miswak trong việc thanh tẩy, tổ chức tiệc đêm khi có ai kết hôn, cắt bao quy đầu cho con.

4- MUSTAHAB: Nó cũng được gọi là mandub hoặc adab. Đó là sunnah al-ghayr al muakkada. Đó là những điều được thực hiện và thích bởi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, dù Ngài chỉ thực hiện chúng một hoặc hai lần trong đời của Ngài. Ví dụ: Đặt tên cho một đứa trẻ sơ sinh khi được bảy ngày tuổi, thực hiện một lễ hiến tế aqiqa để cầu phước cho con, mặc quần áo đẹp, sử dụng dầu thơm. Những người thực hiện những điều này sẽ có được nhiều phần thưởng. Nếu bỏ qua, thì không có tội.

5- MUBAH: Những hành động không yêu cầu cũng không bị cấm. Những điều là mubah sẽ khiến một người có thể phạm tội hoặc có phần thưởng tùy theo ý định của người thực hiện chúng. Ví dụ, ngủ, ăn nhiều loại thực phẩm halal, mặc nhiều loại quần áo halal là mubah. Nếu những điều này được thực hiện với mục đích tuân theo Islam, thực hiện các quy tắc của Islam, chúng sẽ mang lại phần thưởng. Chẳng hạn như ăn hoặc uống với mục đích khỏe mạnh và thực hiện sự thờ phượng.

6- HARAM: Chúng là những điều đã bị Allahu ta’ala cấm rõ ràng trong Qur’an al-karim. Làm những hành vi haram hoặc sử dụng những thứ haram chắc chắn bị cấm. Một người nói “halal” cho một điều gì đó haram hoặc “haram” cho một điều gì đó halal trở thành một kafir (kẻ vô tín). Đó là bắt buộc và mang lại nhiều phần thưởng nếu tránh những điều haram. Giết người, ngoại tình, tình dục đồng giới, cờ bạc, uống rượu và đồ uống có cồn, nói dối, trộm cắp, ăn thịt heo, ăn máu và xác thối, phụ nữ ra ngoài trong khi không che đầu, tay, chân, tất cả những điều này đều là haram và là tội trọng. Nếu ai đọc Basmala trước khi phạm những tội lỗi này, hoặc nghĩ rằng chúng là halal, hoặc không coi trọng sự thật rằng chúng đã bị Allahu ta’ala làm cho haram, thì trở thành một kẻ vô tín. Nếu anh ta phạm những tội lỗi này, mặc dù anh ta tin rằng chúng là haram và sợ bị trừng phạt, anh ta không trở thành một kẻ vô tín. Tuy nhiên, anh ta sẽ đáng bị hành hạ ở Địa ngục. Nếu anh ta cố tình phạm tội và không ăn năn, điều đó sẽ khiến anh ta mất đi đức tin (iman) của mình vào hơi thở cuối cùng.

7- MAKRUH: Chúng là những điều mà Allahu ta’ala và Muhammad ‘alaihis salam không thích. Những điều này làm giảm phần thưởng của sự thờ phượng. Makruh có hai loại: Tahrimi makruh: Tahrimi makruh là việc bỏ qua một wajib, và nó gần với haram. Việc phạm phải chúng đòi hỏi sự tra tấn. Chúng là những điều như thực hiện một salat trong thời gian mặt trời mọc và lặn. Tanzihi makruh: Chúng là những hành động gần với mubah, tức là halal, hoặc những hành động mà tốt hơn là bạn không nên làm chúng hơn là làm chúng. Chẳng hạn như việc bỏ qua những hành động là sunnah al-ghayr al-muakkada hoặc mustahab.

8- MUFSID: Trong tôn giáo của chúng ta, chúng là những thứ vô hiệu hóa, làm mất hiệu lực một hành động hợp pháp hoặc một sự thờ cúng đã bắt đầu như đức tin, salat, hôn nhân, hajj, zakat, mua bán. Ví dụ, việc báng bổ Allahu ta'ala hoặc Qur'an al-karim là vô đức tin; những hành động này vô hiệu hóa đức tin. Cười trong khi thực hiện salat vô hiệu hóa thanh tẩy và salat. Trong thời gian ăn chay, ăn hoặc uống một thứ gì đó mà cố ý vô hiệu hóa việc ăn chay. Những người thực hiện fard, wajib và sunnah, và những người kiêng haram và makruh được ban ajr, tức là thawab (phần thưởng, phước lành). Những người phạm haram và makruh và những người không thực hiện fard và wajib sẽ là tội lỗi. Phần thưởng của việc kiêng haram cao hơn nhiều lần so với phần thưởng của việc thực hiện fard. Phần thưởng của việc thực hiện fard cao hơn phần thưởng của việc kiêng makruh. Phần thưởng của việc kiêng một makruh còn quan trọng hơn phần thưởng của việc thực hiện một sunnah.

Ibadat (việc thờ phượng) là gì?

“Một ít ibadat được thực hiện với kiến thức còn tốt hơn nhiều ibadat được thực hiện mà không có kiến thức.” Hadith ash-sharif

Sự thờ phượng là giữ gìn các điều răn và lệnh cấm của Allahu ta’ala, Đấng đã tạo ra chúng ta và mọi tạo vật, Đấng duy trì sự hiện hữu của chúng ta mọi lúc, Đấng bảo vệ chúng ta khỏi những tai họa có thể và không thể thấy, Đấng ban cho chúng ta mọi phước lành mọi lúc. Con người có bổn phận phải biết ơn Allahu ta’ala, Đấng ban phước lành nhiều nhất có thể cho ta. Đây là một bổn phận được ra lệnh bởi lý trí. Nhưng con người thường sai lầm. Lý luận của họ không tuyệt đối. Họ không thấy những điều nên cảm ơn, tôn kính Allahu ta’ala, trừ khi chúng được Allahu ta’ala tuyên bố, quả là một sự xúc phạm. Ngày nay, Allahu ta’ala nói ra những bổn phận mà con người thực hiện bằng trái tim, lưỡi và cơ thể, mà họ phải thực hiện để cảm ơn Allahu ta’ala, và được Vị tiên tri yêu dấu của Người truyền đạt cho chúng ta. Vì vậy, những người hợp lý phải noi theo Muhammad ‘alaihis-salam để cảm ơn Allahu ta’ala và tôn thờ Allahu ta’ala. Người noi theo Muhammad ‘alaihis salam là người Muslim. Sự thờ phượng là cảm ơn Allahu ta’ala, tức là noi theo Muhammad ‘alaihis-salam.

Các phần của Islam

Islam có hai phần:

A- Những điều phải tin bằng trái tim.

B- Sự thờ phượng phải được thực hiện bằng trái tim và bằng cơ thể.

Những điều cơ bản phải tin tưởng bằng cả trái tim

Đức tin là tin vào sự thật rằng Rasulullah (sallallahu 'alaihi wa sallam) là Vị tiên tri của Allahu ta'ala, rằng Ngài là Nabi, Sứ giả được Người chọn, và nói điều này bằng trái tim và tin tóm tắt những gì Ngài truyền đạt tóm tắt và tin chi tiết những gì Ngài truyền đạt chi tiết từ Allahu ta'ala, và nói câu Kalima ash-shahada bất cứ khi nào và thường xuyên nhất có thể. Đức tin mạnh mẽ là như vậy, như chúng ta biết chắc chắn rằng lửa cháy, rắn giết người bằng chất độc và chúng ta tránh chúng, chúng ta nên coi Allahu ta'ala và các thuộc tính của Người là vĩ đại, hãy hoàn toàn chắc chắn về điều này bằng trái tim, phấn đấu để được Người chấp thuận (rida') và chạy đến với vẻ đẹp của Người (jamal), và hãy cẩn thận với cơn thịnh nộ (ghadab) và sự tra tấn (jalal) của Người. Chúng ta nên viết đức tin này vào trái tim một cách chắc chắn như một dòng chữ trên đá cẩm thạch. Có sáu nguyên tắc cơ bản của đức tin, mà chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối. Đó là:

1- Tin vào sự hằng hữu và tính duy nhất của Allahu ta’ala.

2- Tin vào các thiên thần của Người.

3- Tin vào các kinh sách được Allahu ta’ala mặc khải.

4- Tin vào các Tiên tri được Allahu ta’ala phái đến.

5- Tin vào Ngày phán xét cuối cùng (Yawm al-akhir).

6- Tin rằng qadar, khair (tốt) và sharr (xấu) đến từ Allahu ta’ala.

Những sự thờ phượng được thực hiện toàn tâm, toàn ý.

Có những sự thờ phượng mà mọi người Muslim tuyệt đối phải làm, và có những quy tắc phải tuân theo khi thực hiện những nhiệm vụ đó. Những sự thờ phượng đó được gọi là Nền tảng của Islam, và có năm trong số đó:

1- Đọc câu Kalima ash-shahada.

2- Thực hiện năm salat hàng ngày vào đúng thời điểm.

3- Nộp zakat từ tài sản của một người.

4- Ăn chay mỗi ngày trong tháng Ramadan.

5- (Đối với một người đủ điều kiện) thực hiện hajj một lần trong đời.

Đôi mắt của những ai yêu quý Ngài,
Sẽ không rời hướng đến người khác,
Những ai mà mục tiêu chỉ là Ngài,
Sẽ không quan tâm đến thế gian hay akhirat.
Những ai đã trao trọn con tim cho Ngài,
Những ai có hiểu biết đến với Ngài,
Những người có đôi mắt đã nhìn thấy Ngài,
Sẽ luôn luôn có được may mắn.
Những người yêu ấy sẽ không chết,
Cơ thể họ không hề mục nát,
Bất kỳ ai lạc mất trong tình yêu,
Sẽ không bao giờ gặp xui xẻo.
Những ai tuân theo mệnh lệnh của Ngài,
Những ai đã đến với Ngài,
Những ai hót như chim họa mi,
Sẽ không ai hiểu được.
Những ai tìm thấy nhau qua tình yêu của Ngài,
Những ai yêu thương nhau vì Ngài,
Những ai đã đến và được diện kiến Ngài,
Sẽ không bao giờ e ngại cái chết.
HÃY XEM MAWLA LÀM GÌ
Hãy xem việc kính yêu Haqq là bổn phận của bạn,
Những ai chưa từng nếm trải tình yêu,
Sẽ không thể có con tim trong sáng.

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN CỦA IMAN (NIỀM TIN)

“Mỗi người Muslim đều phải cho con cái mình học thuộc lòng (Amantu) và hiểu rõ ý nghĩa của nó.” Huseyn ibn Sa’id (rahmatullahi ’alaih)

Những điều cơ bản của đức tin được giải thích trong lời cầu nguyện Amantu. Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) nói rằng đức tin có nghĩa là tin vào sáu điều nhất định. Do đó, mọi người Muslim phải để con cái mình ghi nhớ (Amantu) và học kỹ ý nghĩa của nó.

AMANTU: Amantu billahi wa Malaikatihi wa Kutubihi wa Rusulihi wal-yawm-il-akhiri wa bil qadari, khairihi wa sharrihi min Allahi ta’ala walba’thu ba’dal-mawti haqqun, Ashhadu an la ilaha illallah wa ash-hadu anna Muhammadan ’abduhu wa rasuluhu.

1- Tin vào sự tồn tại và tính duy nhất của Allahu ta’ala

(Amantu billahi) có nghĩa là, “Tôi tin vào sự tồn tại của Allahu ta'ala và vào Sự duy nhất của Người. Tôi khẳng định sự thật này bằng trái tim mình và tuyên xưng bằng đôi môi của mình.” Allahu ta'ala tồn tại và Người là Duy nhất. Người không có đối tác hay ngang hàng. Nghĩa là, không có đối tác nào với Người trong Thuộc tính của Người hoặc trong Ngôi vị của Người. Vì thuộc tính của con người hoặc của tất cả các tạo vật không giống như hình dạng hoặc thuộc tính của Đấng sáng tạo, nên hình dạng và thuộc tính của Đấng sáng tạo không giống với hình dạng hoặc thuộc tính của các tạo vật của Người. Chỉ có Allahu ta'ala là Đấng sáng tạo ra mọi chi, mọi tế bào của mọi sinh vật từ hư không. Không ai có thể biết rõ về Ngôi vị của Allahu ta'ala. Người khác xa mọi tưởng tượng trong tâm trí. Không được phép nghĩ về Ngôi vị của Người. Tuy nhiên, ta phải ghi nhớ các Thuộc tính của Người đã được nêu trong Qur'an al-karim và chúng ta phải khẳng định Thần tính của Người với các Thuộc tính này. Tất cả các Thuộc tính và Tên của Người là vĩnh cửu trong quá khứ (không có khởi đầu) và mãi mãi. Người không phải là một vật chất, một vật thể hay một trạng thái. Người không có đối tác, đối cực hay một phản cực nào giống như vậy. Người không giống như những thứ chúng ta biết hoặc có thể tưởng tượng. Chúng ta không thể hiểu hoặc tưởng tượng Người là như thế nào. Khi chúng ta nói “Người”, không có bất kỳ điều gì xuất hiện trong tâm trí chúng ta hoặc chúng ta có thể tưởng tượng là Người. Allahu ta'ala tồn tại và Người là Duy nhất. Không có vị thần nào đáng được tôn thờ ngoài Người. Allahu ta'ala không có thời gian, địa điểm hoặc phương hướng. Người không ở bất kỳ địa điểm hoặc phương hướng nào. Người là Đấng đã tạo ra thời gian, địa điểm và phương hướng. Những người thiếu hiểu biết nghĩ rằng Người ở trên Arsh hoặc trên bầu trời. Người là Đấng đã tạo ra Arsh và những gì ở trên và dưới nó. Một thứ gì đó được tạo ra sau đó không thể là nơi của Đấng là azali (qadim, không có khởi đầu và vĩnh cửu). Vì bản thân của Người không ở một nơi nào, nên Người cũng ở rất xa sáu hướng đã biết. Người không ở trên, ở dưới, ở phía trước hay phía sau, ở bên phải hay bên trái. Người không ở trong vũ trụ này hay ngoài nó. Ở bên trong hay bên ngoài chỉ được chấp nhận đối với hai thứ được tạo ra. Không thể nói rằng Allahu ta’ala ở khắp mọi nơi. Vì Allahu ta’ala không có một vị trí nào cả, nên nói rằng Người ở khắp mọi nơi là chỉ định một vị trí cho Người. Đấng đã tạo ra mọi vị trí, tức là mọi thứ là Allahu ta’ala. Những thứ được tạo ra không thể là vị trí của Đấng Tạo Hóa. Vì vậy, thay vì nói rằng Người ở khắp mọi nơi, chúng ta nên nói, “Allahu ta’ala không có một vị trí nào cả”. Đây là lý do tại sao chúng ta nói, “Allahu ta’ala hiện diện và nhìn thấy, luôn luôn và ở khắp mọi nơi. Hadrat Sayyid Abdulhakim Arvasi đã nói: “Vì Allahu ta’ala không có thời gian hay địa điểm, nên nói Người hiện diện và nhìn thấy Người là ẩn dụ. Nghĩa là Người hiện diện và nhìn thấy Người thì không có thời gian và địa điểm. Vì mọi Thuộc tính của Allahu ta’ala là không có thời gian và địa điểm, nên sự hiện diện và nhìn thấy Người cũng không có thời gian và địa điểm.” Vũ trụ được tạo ra ở cấp độ ảo ảnh. Vũ trụ ở cấp độ ảo ảnh được nhìn thấy như thể hằng số là có thể với sức mạnh của Allah. Người là Đấng sáng tạo, Chủ sở hữu, Đấng cai trị tuyệt đối của mọi sinh vật. Phải tin và thừa nhận rằng không có ai thống trị, ra lệnh cho Người hay vượt trội hơn Người. Mọi loại ưu việt, mọi thuộc tính hoàn hảo, chỉ thuộc về Người. Không có khuyết điểm, không có thuộc tính thiếu sót nào tồn tại trong Người. Người có thể làm bất cứ điều gì Người muốn. Những gì Người làm không nhằm mục đích có ích cho Người hay người khác. Người không làm mọi việc để được thưởng. Tuy nhiên, trong mọi việc Người làm, đều có những nguyên nhân ẩn giấu (hikmat), lợi ích, phước lành và ân huệ. Allahu ta’ala không cần phải làm những điều tốt và hữu ích cho các tạo vật của Người, Người cũng không cần phải thưởng cho một số người hoặc tra tấn một số người khác. Sẽ phù hợp với sự siêu việt và lòng nhân từ của Người nếu Người đưa tất cả những kẻ tội lỗi đến Thiên đàng (Thiên đường). Và sẽ là công lý của Người nếu Người đưa tất cả những người vâng lời và thờ phượng Người vào Jahannam (Địa ngục). Tuy nhiên, Người đã ra sắc lệnh và tuyên bố rằng Người sẽ đưa những người Muslim, những người thờ phượng Người, vào Thiên đàng và ban cho họ những ân huệ và rằng Người sẽ tra tấn những kẻ không tin vào Địa ngục mãi mãi. Người không nuốt lời. Sẽ chẳng có ích gì cho Người nếu tất cả các sinh vật sống tin và thờ phượng Người, cũng như sẽ không gây hại cho Người nếu tất cả các sinh vật trở thành những kẻ không tin, trở nên quá đáng hoặc không vâng lời Người. Người sẽ tha thứ, nếu Người muốn, một người đã phạm bất kỳ tội lỗi lớn nào và đã chết mà không ăn năn, ngoại trừ nếu đó là đa thần giáo hoặc vô tín ngưỡng. Người sẽ tra tấn người đó, nếu Người muốn, vì một tội nhẹ. Người tuyên bố rằng Người sẽ không bao giờ tha thứ cho những kẻ chết như những kẻ vô tín và bội giáo và rằng Người sẽ tra tấn họ đời đời. Người sẽ tra tấn trong Địa ngục những người Muslim thờ phượng Người nhưng đức tin (i'tiqad) của họ không tương thích với đức tin của Ahl as-sunnah và những người chết mà không ăn năn. Tuy nhiên, những người Muslim dị giáo (bid'at) như vậy sẽ không ở lại Địa ngục mãi mãi. Có thể (ja'iz) nhìn thấy Allahu ta'ala bằng mắt trên thế giới này, nhưng không ai từng làm được. Vào ngày phán xét, Người sẽ được những kẻ vô tín và những người Muslim tội lỗi nhìn thấy trong Cơn thịnh nộ và Vinh quang của Người và được những người Muslim ngoan đạo nhìn thấy trong Lòng tốt và Vẻ đẹp của Người. Các thiên thần và phụ nữ cũng sẽ nhìn thấy Người trong Thiên đàng. Những kẻ vô tín sẽ bị tước mất điều này. Sự trôi qua của thời gian, ngày hay đêm, không thể liên quan đến Allahu ta'ala. Không thể có sự thay đổi nào ở Người theo bất kỳ khía cạnh nào, cũng không thể nói rằng Người đã từng theo cách này trong quá khứ hoặc Người sẽ như thế này trong tương lai. Người không thâm nhập (hulul) vào bất cứ điều gì. Nghĩa là, Người không hợp nhất với bất cứ điều gì. Người không bao giờ có sự đối lập, sự đảo ngược, sự giống nhau, đối tác, trợ lý hoặc người bảo vệ.

“Vì Allahu ta’ala không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian, nên việc nói rằng Ngài “hiện diện” và “nhìn thấy” là mang tính ẩn dụ. Điều đó có nghĩa là Ngài hiện diện và nhìn thấy mà không phụ thuộc vào thời gian hay không gian.” Sayyid Abdulhakim Arvasi (rahmatullahi ’alaih)

Người không có cha, mẹ, con trai, con gái hay vợ. Người hiện diện ở khắp nơi, bao trùm và giám sát vạn vật. Người gần gũi với một người hơn cả tĩnh mạch cảnh ở cổ của người ấy. Tuy nhiên, sự bao trùm của Người, sự hiện hữu hay sự kết nối hay sự gần gũi của Người, không giống như những gì chúng ta hiểu về những từ này. Sự gần gũi của Người không thể được hiểu bằng kiến ​​thức của ‘ulama (học giả), bằng trí tuệ của các nhà khoa học hoặc bằng kashf hay shuhud (cảm hứng, sự mặc khải) của Awliya (những tôi tớ yêu quý của Allahu ta’ala). Lý trí con người không thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu của chúng. Allahu ta’ala là duy nhất trong Ngôi vị và trong các Thuộc tính của Người. Không có sự thay đổi hay phân biệt nào diễn ra trong chúng. Tên của Allahu ta’ala là vô hạn. Chỉ biết rằng Người có một nghìn lẻ một Tên; nghĩa là, Người chỉ tiết lộ một nghìn lẻ một Tên của Người cho con người. Trong tôn giáo của Muhammad ‘alaihis-salam, chín mươi chín trong số chúng, được gọi là “Asma al-husna” đã được mặc khải.

Thuộc tính dhati và thubuti của Allahu ta’ala
Allahu ta’ala có sáu (được gọi là thuộc tính) Sifat adh-dhatiyya:

1- Al-Wujud: Allahu ta’ala tồn tại. Sự tồn tại của Người là vĩnh cửu trong quá khứ. Người là Wajib al-wujud; nghĩa là, sự tồn tại của Người là cần thiết.

2- Al-Qidam: Sự tồn tại của Allahu ta’ala là không có khởi đầu.

3- Al-Baqa’: Sự tồn tại của Allahu ta’ala là không có kết thúc. Người không bao giờ ngừng tồn tại. Vì sự tồn tại của một đối tác là không thể, nên sự không tồn tại của Dhat (Ngôi vị, Bản chất) và Thuộc tính của Người là không thể.

4- Al-Wahdaniyyat: Allahu ta’ala không có đối tác hoặc đối trọng trong Dhat, Thuộc tính và Hành động của Người.

5- Al-Mukhalafatun-lilhawadith: Dhat và Thuộc tính của Người không giống với dhat và thuộc tính của bất kỳ tạo vật nào của Người.

6- Al-Qiyam bi-nafsihi: Allahu ta’ala tồn tại với Dhat của Người. Người không cần một nơi chốn. Khi không có vật chất hay địa điểm, Người đã hiện hữu vì Người không cần bất kỳ nhu cầu nào. Người sẽ luôn luôn giống nhau trong tương lai vĩnh cửu như Người đã từng trước khi đưa vũ trụ này vào hiện hữu từ hư vô.

Allahu ta’ala có tám (được gọi là thuộc tính) Sifat ath-thubutiyya:

1- Hayat: Allahu ta’ala là Đấng Hằng hữu. Cuộc sống của Người không giống với cuộc sống của các tạo vật. Cuộc sống của Người, xứng đáng và đặc biệt với Dhat của Người, là vĩnh cửu trong quá khứ và tương lai.

2- ‘Ilm: Allahu ta’ala biết mọi thứ. Kiến thức của Người không giống với kiến ​​thức của tạo vật của Người. Nếu một con kiến ​​đi trên một hòn đá đen trong bóng tối của đêm, Người nhìn thấy và biết điều đó. Người biết những suy nghĩ và ý định mà mọi người ấp ủ trong lòng. Không có sự thay đổi nào xảy ra trong kiến ​​thức của Người. Nó là vĩnh cửu trong quá khứ và tương lai.

3- Sam’: Allahu ta’ala nghe. Người nghe mà không cần bất kỳ phương tiện hay chỉ dẫn nào. Thính giác của Người không giống như thính giác của các tạo vật. Thuộc tính này của Người, giống như các Thuộc tính khác của Người, là vĩnh cửu trong quá khứ và tương lai.

4- Basar: Allahu ta’ala nhìn thấy. Người nhìn mà không cần công cụ và điều kiện. Sự nhìn của Người không thông qua đôi mắt.

5- Irada: Allahu ta’ala có Ý chí. Người tạo ra những gì Người muốn. Mọi thứ đều tồn tại theo Ý chí của Người. Không có sức mạnh nào có thể ngăn cản Ý chí của Người.

6- Qudrat: Allahu ta’ala là Đấng toàn năng. Không có gì là khó khăn đối với Người.

7- Kalam: Allahu ta’ala có Thuộc tính về Ngôn từ. Ngôn từ của Người không thông qua các công cụ, chữ cái, âm thanh hoặc lưỡi.

8- Takwin: Allahu ta’ala là Đấng sáng tạo. Không có đấng sáng tạo nào ngoài Allah. Mọi thứ đều do Người tạo ra. Chúng ta chỉ được phép gọi Allahu ta’ala là đấng sáng tạo. Người đã tạo ra mọi chúng sinh từ hư không. Chỉ có Người tạo ra hành động, sự dừng lại, suy nghĩ, bệnh tật, sự phục hồi, việc tốt và xấu, lợi ích và tác hại của con người và động vật. Con người không thể tự tạo ra hành động hoặc suy nghĩ của chính mình hoặc bất kỳ thứ gì khác. Chính Người là Đấng sáng tạo và tạo ra suy nghĩ, hành động, khám phá và phát hiện của con người. Thật là ngu ngốc và phạm thượng khi sử dụng từ ‘đấng sáng tạo’ khi ám chỉ đến một người nào đó ngoài Người. Sifat ath-thubitiyya của Allahu ta’ala, cũng như sifat adh-dhatiyya của Người, là qadim (vĩnh cửu). Những Thuộc tính này cũng không thể tách rời khỏi Dhat (Bản thân) của Người. Nói cách khác, các Thuộc tính của Người không giống với Dhat của Người cũng không tách rời khỏi Dhat của Người. Không ai và không có gì có thể là đối tác hoặc là sự kết hợp trong các Thuộc tính của Người.

Thuộc tính Dhati của người là các Thuộc tính của Allahu ta’ala chỉ dành riêng cho Người. Các Thuộc tính này không tồn tại trong bất kỳ tạo vật nào. Chúng cũng không có mối liên hệ nào với tạo vật.

Thuộc tính thubuti của Người là các Thuộc tính có mối liên hệ với tạo vật. Ngoài thuộc tính sáng tạo, Người đã ban chúng cho các tôi tớ của Người với số lượng hạn chế và nhỏ. Không thể có sự thay đổi nào trong các Thuộc tính này của Người. Chúng, giống như các Thuộc tính Dhati, là azali (vĩnh cửu, không có khởi đầu và vĩnh cửu). Vì các tạo vật được tạo ra sau đó, nên mối liên hệ của các Thuộc tính với chúng được tạo ra sau đó; nó không phải là vĩnh cửu. Các Thuộc tính này của Người, tức là sự sống, sự hiểu biết, sự nghe, sự nhìn, sức mạnh, sự muốn và sự nói của Người, không giống như những thuộc tính của nô lệ. Chỉ có tên là giống nhau. Hiểu được bản chất Dhat và Thuộc tính của Người là điều không thể. Không tạo vật nào có thể hiểu được đấng sáng tạo của mình. Giáo chủ, tiên tri của chúng ta đã tuyên bố, “Hãy suy ngẫm về các tạo vật của Allahu ta’ala. Đừng suy ngẫm về Người. Vì các ngươi không thể đánh giá cao hay hiểu được Sự vĩ đại của Người.” Trong một hadith khác ash-sharif, có tuyên bố rằng, “Allahu ta’ala khác xa với mọi thứ mà ta nghĩ đến.”4

2- Tin vào các thiên thần

Wa Malaikatihi: Có nghĩa là “Tôi tin vào các thiên thần của Allahu ta'ala.” Các thiên thần là vật chất mà phi vật chất (latif), phi vật chất hơn cả thể khí của vật chất. Họ là nurani (ánh sáng). Họ đang sống. Họ có lý trí ('aql). Không tồn tại sự độc ác mà con người ở các thiên thần. Họ có thể ở bất kỳ hình dạng nào. Giống như thể khí biến thành thể lỏng hay thể rắn và có bất kỳ hình dạng nào khi trở thành thể rắn, các thiên thần có thể có những hình dạng tuyệt đẹp. Các thiên thần không phải là linh hồn tách ra từ cơ thể của những người vĩ đại. Những người theo Ki Tô giáo cho rằng các thiên thần là những linh hồn như thế. Không giống như năng lượng hay sức mạnh, họ không

“ Hãy suy ngẫm về các tạo vật của Allahu ta’ala. Đừng suy nghĩ về Bản Thể của Người. Bởi vì bạn sẽ không thể hiểu hết hay đánh giá được Sự Vĩ Đại của Người .” Hadith ash-sharif

phải là phi vật chất. Một số triết gia cổ đại nghĩ họ là thế. Malak (thiên thần) có nghĩa là thiên sứ, sứ giả. Dạng số nhiều của từ malak là “Malaika”. Các thiên thần được tạo ra trước tất cả các sinh vật sống khác. Do đó, chúng ta được lệnh phải tin vào họ trước khi tin vào kinh sách, trước khi tin vào các nhà tiên tri. Trong Kinh Qur'an al-karim, tên của những đức tin này được đưa ra theo trình tự đó. Đức tin vào các thiên thần phải như sau: Các thiên thần là tôi tớ của Allahu ta’ala. Họ không phải là đối tác của Người, cũng không phải là con của Người như những kẻ vô thần và những người đa thần giáo cho là thế. Allahu ta’ala hài lòng với tất cả các thiên thần. Họ tuân theo lệnh của Người và không bao giờ phạm tội hoặc bất tuân. Họ không phải là nam hay nữ. Họ không kết hôn. Họ không có con. Họ có sự sống; nghĩa là, họ đang sống. Khi Allahu ta’ala tuyên bố rằng Người sẽ tạo ra loài người, các thiên thần đã hỏi, “Hỡi Rabb của chúng con! Người sẽ tạo ra những sinh vật sẽ làm hỏng thế giới và gây đổ máu sao?” Những câu hỏi như vậy, được gọi là dhalla, từ các thiên thần không thể thay đổi sự thật rằng họ vô tội và không có tội. Trong tất cả các tạo vật, thiên thần là nhiều nhất. Chỉ có Allahu ta’ala mới biết số lượng của họ. Bất cứ không gian trống nào trên bầu trời đều có các thiên thần thực hiện sự thờ phụng. Khắp nơi trên bầu trời đều có các thiên thần ruku’ (cúi đầu trong salat) hoặc ở sajda (lạy). Trên bầu trời, trên mặt đất, trong đám cỏ, trên các vì sao, trong mọi sinh vật sống và chết, trong mọi giọt mưa, lá cây, nguyên tử, phân tử, trong mọi phản ứng, mọi chuyển động, trong mọi thứ, các thiên thần đều có nhiệm vụ. Họ thực hiện các mệnh lệnh của Allahu ta’ala ở mọi nơi. Họ là trung gian giữa Allahu ta’ala và các tạo vật. Một số trong số họ là chỉ huy của các thiên thần khác. Một số khác mang thông điệp đến cho các nhà tiên tri trong nhân gian. Một số thiên thần mang những suy nghĩ tốt đẹp, được gọi là “ilham” (cảm hứng), đến trái tim con người. Một số khác không hề biết đến con người và các sinh vật và đang bị lạc vào vẻ đẹp của Allahu ta’ala. Mỗi thiên thần ở một nơi nhất định và không rời khỏi vị trí của mình. Các thiên thần thuộc về Thiên đàng ở lại Thiên đàng. Thượng cấp của họ là Ridwan. Các thiên thần của Địa ngục, Zabanis, thực hiện những gì họ được lệnh ở Địa ngục. Lửa của Địa ngục không làm hại họ giống như biển không gây hại cho cá. Có mười chín zabanis là lãnh đạo. Thủ lĩnh của họ là Malik. Có bốn thiên thần ghi lại tất cả những việc làm tốt và xấu cho mỗi con người. Hai trong số họ đến vào ban đêm, và hai người còn lại đến vào ban ngày. Họ được gọi là Kiraman katibin hoặc thiên thần của Hafaza. Người ta cũng nói rằng các thiên thần của Hafaza khác với Kiraman katibin. Thiên thần ở bên phải thì cao hơn thiên thần ở bên trái và ghi lại những việc làm tốt của một người. Thiên thần ở bên trái ghi lại những việc làm xấu xa của người đó. Có những thiên thần sẽ tra tấn những người Muslim không tin và không vâng lời trong mộ của họ và những thiên thần sẽ đặt câu hỏi trong mộ. Những thiên thần thẩm vấn được gọi là “Munkar và Nakir”. Những người sẽ thẩm vấn người Muslim cũng được gọi là “Mubashshir và Bashir”.

Các thiên thần có sự vượt trội hơn nhau. Vượt trội nhất là bốn vị tổng lãnh thiên thần.

1- Jabrail ’alaihis-salam. Nhiệm vụ của ngài là mang wahi (lời mặc khải) đến cho các nhà tiên tri, để thông báo cho họ về các điều răn và lệnh cấm.

2- Israfil ’alaihis-salam. Ngài sẽ thổi chiếc tù và gọi là Sur. Ngài sẽ thổi chiếc Sur hai lần. Khi tiếng tù và đầu tiên vang lên, trừ Allahu ta’ala mọi sinh vật sống sẽ chết. Khi tiếng tù và thứ hai vang lên, tất cả sẽ được sống lại.

3- Mikail ’alaihis-salam. Nhiệm vụ của ngài là tạo ra sự rẻ tiền, đắt đỏ, khan hiếm, sung túc và di chuyển mọi vật thể.

4- Azrail ’alaihis-salam. Ngài lấy linh hồn của con người.

Bốn vị này là các tiên tri của tất cả các thiên thần. Sau bốn vị này, xét về sự vượt trội, có bốn hạng thiên thần: bốn thiên thần của Hamala al-Arsh, những người sẽ là tám thiên thần trên phán xét; thiên thần trong Sự Hiển Linh được gọi là Muqarrabin; các thủ lĩnh của các thiên thần tra tấn, là Karubiyun; và các thiên thần của Lòng thương xót, là Ruhaniyun. Tất cả những vị này là những thiên thần cao cấp. Họ cao hơn tất cả con người ngoại trừ các nhà tiên tri. Những người sulaha (những người ngoan đạo và tránh tội lỗi) và Awliya trong số những người Muslim cao hơn các thiên thần ở cấp độ thông thường. Và các thiên thần bình thường thì cao hơn những người Muslim bình thường, tức là những người Muslim bất tuân và tội lỗi.

3- Tin vào Thiên Kinh

Wa kutubihi: Nó có nghĩa là “Tôi tin vào những Sách được Allahu ta'ala mặc khải.” Người đã gửi những Kinh Sách này cho một số nhà tiên tri bằng cách bắt thiên thần Jabrail đọc cho họ nghe. Đối với một số người, Người đã gửi những Kinh Sách được khắc trên những tấm bia và đối với một số người khác bằng cách khiến họ nghe mà không cần thiên thần. Tất cả những Kinh Sách này là Lời (Kalam) của Allahu ta'ala. Chúng là hằng hữu và vĩnh cửu. Chúng không phải là những sinh vật. Chúng không phải là những lời do các thiên thần tạo ra, cũng không phải là lời của các nhà tiên tri. Tất cả những Kinh Sách được Allahu ta'ala gửi đi đều đúng và chân thực. Một trăm lẻ bốn Kinh Sách trên thiên đàng đã được mặc khải cho chúng ta. Trong số này, mười suhuf (số nhiều của sahifa, cuốn sách nhỏ) đã được mặc khải cho Adam 'alaihis-salam, năm mươi suhuf cho Shis (Shit) 'alaihis-salam, ba mươi suhuf cho Idris 'alaihis-salam và mười suhuf cho Ibrahim 'alaihis-salam; Tawrat (Torah gốc) đã được mặc khải cho Musa 'alaihis-salam, Zebur (Psalms) cho Dawud 'alaihis-salam, Injil (Kinh thánh) cho Isa 'alaihis-salam và Qur'an al-karim cho Muhammad 'alaihis-salam. Qur'an al-karim đã thay thế tất cả các Kinh Sách và bãi bỏ hiệu lực của các quy tắc của chúng. Sẽ không bao giờ có bất kỳ lỗi, bổ sung, quên hoặc thiếu điểm nào trong Qur'an al-karim cho đến tận thế. Tất cả kiến ​​thức về quá khứ và tương lai đều tồn tại trong Qur'an al-karim. Vì lý do này, nó cao hơn và có giá trị hơn tất cả các Kinh Sách. Mu'jiza (phép lạ) vĩ đại nhất của Rasulullah (sall Allahu 'alaihi wa sallam) là Qur'an al-karim. Nếu tất cả con người và jinn tụ họp lại và cố gắng nói điều gì đó tương tự như đoạn ngắn nhất của Qur'an al-karim, họ sẽ không thể làm được. Ngày nay, tất cả mọi người phải tuân theo Qur'an al-karim. Hiện tại, không có Tawrat hay Injil thực sự nào ở bất cứ đâu. Có những Injil bị làm sai lệch. Những cuốn sách này đã bị làm giả, bị con người thay đổi. Ngay cả khi chúng không bị làm sai lệch, chúng cũng không có giá trị; chúng đã bị Allahu ta'ala vô hiệu hóa.

“ Chính Ta đã ban xuống Qur’an, và thật sự, chính Ta sẽ bảo vệ nó .” Hijr: 9

Qur'an al-karim được mặc khải bởi ayat và hoàn thành trong hai mươi ba năm. Qur'an al-karim có giá trị cho đến phán xét. Nó được bảo vệ khỏi việc trở nên vô hiệu và mọi người làm hỏng nó. Nếu một người tin rằng có sự thiếu hụt hoặc dư thừa trong đó, thì người đó không tin vào Allahu ta'ala.

Có ghi trong ayat al-karimas bằng maal:

“Ta là Đấng đã ban Kinh Qur'an xuống và Ta là Đấng sẽ bảo vệ nó.” (Hijr: 9) “Kinh Qur’an al-karim là một cuốn sách rất quý giá, hùng mạnh (vô song). Sự dối trá không thể xâm nhập vào nó từ phía trước hoặc từ phía sau. (Bởi vì) Nó được mặc khải bởi Allahu ta’ala, Đấng là hakim (Đấng thông thái nhất) và mahmud (Đấng vô cùng đáng ca ngợi).” (Fussilat 41-42)

Kinh Qur'an al-karim cho biết về nhiều sự kiện trong quá khứ và tương lai. Bạn càng đọc hoặc nghe, bạn càng cảm thấy hứng thú muốn đọc hoặc nghe nhiều hơn. Cơ thể bạn có thể mệt mỏi nhưng không bao giờ cảm thấy chán. Đây là một sự thật đã qua vô số sự kiện được chứng minh đã xảy ra rằng việc đọc hoặc nghe nó có thể chữa lành các vấn đề. Cảm thấy kinh ngạc hoặc đột nhiên sợ hãi khi nghe nó được đọc đi đọc lại không phải là chuyện hiếm gặp, và một số người thậm chí đã chết vì tác động của nó. Trái tim của nhiều kẻ thù không truyền kiếp của Islam đã trở nên dịu lại khi họ lắng nghe Kinh Qur'an al-karim, và chủ sở hữu của chúng sẽ không bao giờ thay đổi. Kinh Qur'an al-karim là Lời của Allah. Con người không thể biên soạn được một cuốn sách như vậy. Không thể nói nổi một câu gì tương tự như một ayat nào của nó. Trong một nghìn bốn trăm năm, các nhà thơ và những người làm văn đã bất lực và kinh ngạc trước phong cách thơ ca và ý nghĩa của Qur'an al-karim. Sau khi Vị tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) vinh danh thế giới bên kia với sự hiện diện của Ngài, Hadrat Abu Bakr, Khalifa đầu tiên của Ngài, đã tập hợp toàn bộ Qur'an al-karim trên giấy. Do đó, một cuốn sách (bản thảo) có tên là Mushaf đã được hình thành. Tất cả các Ashab của Vị tiên tri đều tuyên bố nhất trí rằng mushaf này là Lời của Allahu ta'ala. Hadrat 'Uthman đã gửi chúng đến một số tỉnh sau khi đã viết thêm sáu mushaf. Kinh Qur'an al-karim phải được đọc dưới dạng văn bản gốc bằng tiếng Ả Rập. Bất kỳ văn bản nào được viết bằng ngôn ngữ khác không được gọi là Qur'an al-karim. Chúng ta phải thanh tẩy (tẩy rửa) trước khi cầm nó, ngồi hướng về qibla và đọc nó một cách chú tâm. Ta phải đọc nó một cách chậm rãi và trong khushu (sự tôn kính sâu sắc và khiêm nhường) và bằng cách nhìn vào mushaf và phát âm từng ayat một cách đúng đắn theo các quy tắc của tajwid. Hãy nhớ rằng những gì được đọc là Lời của Allahu ta'ala và hãy tuân theo các điều răn và lệnh cấm từ Qur'an al-karim.

4- Tin vào các Tiên tri Wa Rusulihi:

Wa Rusulihi: Có nghĩa là, “Tôi tin vào các Tiên tri của Allahu ta'ala.” Các Tiên tri được phái đến để mọi người làm theo cách mà Allahu ta'ala thích và hướng dẫn moi người đến con đường chân đạo. Họ là những người cao quý, đáng kính, có phẩm chất, cốt cách, hiểu biết và trí tuệ cao hơn tất cả những người đương thời, có tính cách tốt và có cách cư xử luôn được ưa thích. Các Tiên tri có thuộc tính:

Ismat, nghĩa là họ không phạm bất cứ tội lỗi lớn hoặc nhỏ nào trước hoặc sau khi họ được thông báo về nubuwwat (sứ mện tiên tri) của họ. Sau khi họ được loan báo về nubuwwat và cho đến khi nubuwwat của họ được nhiều người biết đến, họ không có những khiếm khuyết như mù, điếc hoặc tương tự. Rasul (sứ giả) là một vị tiên tri mang đến một tôn giáo mới. Nabi là một vị tiên tri không mang đến một tôn giáo mới nhưng kêu gọi mọi người đến với tôn giáo trước. Không có sự khác biệt giữa một rasul và một nabi khi truyền đạt (tabligh) lệnh và trong việc kêu gọi mọi người đến với tôn giáo của Allahu ta'ala. Chúng ta phải tin rằng tất cả các nhà tiên tri đều trung thực và chân thành, không có ngoại lệ. Ai không tin vào một trong số họ được xem như là không tin vào bất kỳ ai. Mặc dù họ có nhiều kẻ thù và bị chê cười và đối xử tàn ác, nhưng để truyền đạt cho mọi người các mệnh lệnh của Allahu ta'ala, các nhà tiên tri không sợ kẻ thù và không ngần ngại. Bằng các mu'jiza, Allahu ta'ala đã hỗ trợ các nhà tiên tri của Người để chứng tỏ rằng họ trung thực và chân thành. Không ai có thể chống lại nổi các mu'jiza ấy. Người chấp nhận và tin tưởng một nhà tiên tri được gọi là tín đồ của Ngài ấy. Vào ngày phán xét, những người đã phạm tội nghiêm trọng trong cộng đồng của họ sẽ được các nhà tiên tri cầu thay cho, và lời cầu thay của họ sẽ được chấp nhận. Allahu ta'ala cũng sẽ cho phép các ulama (học giả), sulaha (những người ngoan đạo) và awliya (thánh nhân được Allahu ta'ala yêu thương) trong cộng đồng của họ cầu thay, và lời cầu thay ấy sẽ được chấp nhận. Các nhà tiên tri ('alaihimus-salawatu wat-taslimat) vẫn sống với một cuộc sống mà chúng ta không thể biết trong nấm mồ của họ; trái đất không khiến cơ thể được ban phước của họ bị huỷ hoại. Vì thế, có câu trong một hadith ash-sharif, “Các tiên tri đang thực hiện salat trong nấm mồ của mình.” Đôi mắt ân phước của một nhà tiên tri ngủ nhưng con mắt của trái tim Ngài ấy không ngủ. Tất cả các nhà tiên tri đều bình đẳng trong việc tác vụ của mình và sở hữu những phẩm chất tuyệt vời của nubuwwat. Các nhà tiên tri ('alaihimus-salawatu wat-taslimat) là con người. Jinn, thiên thần và phụ nữ không bao giờ có thể là tiên tri cho loài người. Jinn và thiên thần không bao giờ có thể đạt được cấp bậc tiên tri. Các nhà tiên tri có sự vượt trội và được tôn vinh hơn nhau. Ví dụ, tuỳ thuộc vào số lượng cộng đồng của họ, sự rộng lớn của các quốc gia mà họ được phái đến, kiến ​​thức và ma'rifat của họ lan rộng bao xa, và các phép lạ của họ rất nhiều và liên tục và bởi vì có những ân phước và ân huệ đặc biệt dành cho họ. Do những điều này, Muhammad 'alaihis-salam, Vị tiên tri của Thời đại Cuối cùng, vượt trội hơn tất cả các nhà tiên tri khác. Các nhà tiên tri được gọi là Ulu'l-'azm vượt trội hơn những người khác. Các rasul vượt trội hơn các nabi không phải là rasul. Adam 'alaihis-salam là Safiyyullah, người trong sạch được tạo ra như một cao nhân với sự ưu ái của Allahu ta'ala. Nuh 'alaihis-salam là Najiyullah, người luôn đắm mình trong Allahu ta'ala, người vui mừng với các fayzes thiêng liêng. Ibrahim 'alaihis-salam là Khalilullah vì trong trái tim của Ngài không có tình yêu nào khác ngoài tình yêu dành cho Allahu ta'ala. Musa 'alaihis-salam là Kalimullah vì Ngài đã được nói chuyện trực tiếp với Allahu ta'ala. Isa 'alaihis-salam là Ruhullah và Kalimatullah, vì Ngài không có cha và chỉ được sinh ra với Kalima al-ilahiyya (Lời của Thiên Chúa), “Hãy thành!” Hơn nữa, Ngài đã rao giảng những lời của Allahu ta'ala, chứa đầy Trí tuệ Thiêng liêng, và truyền đạt chúng đến tai mọi người.

“Các nhà tiên tri đang thực hiện salat trong mộ của mình.” Hadith ash-sharif

Muhammad 'alaihis-salam, là nguyên nhân để mọi sinh vật được tạo ra và là người cao cả nhất, xuất chúng nhất, đáng kính nhất của nhân loại, là Habibullah (Người yêu quý của Allahu ta'ala). Có nhiều bằng chứng cho thấy sự vĩ đại và xuất sắc của Ngài và rằng Ngài là Habibullah. Vì lý do này, những từ như “đã bị chế ngự” hoặc “đã bị đánh bại” không thể nói về Ngài. Vào ngày phán xét, Ngài sẽ sống dậy trước mọi người từ ngôi mộ của mình. Là người đầu tiên, Ngài sẽ đến nơi mahshar (phán xét). Ngài sẽ là người đầu tiên vào Thiên đàng. Không thể ước lượng được mức độ tuyệt đẹp về phẩm chất đạo đức của Ngài, con người không đủ khả năng để làm như vậy. Vào ngày phán xét, các nhà tiên tri sẽ nương dưới bóng cờ của họ. Allahu ta'ala đã ra lệnh cho tất cả các nhà tiên tri rằng nếu họ vẫn còn sống cho đến thời của Muhammad 'alaihis-salam, người yêu quý và được chọn trong số các sinh vật của Người, họ phải tin Ngài và hỗ trợ Ngài. Đến lượt mình, các nhà tiên tri đều ra lệnh cho cộng đồng của mình làm như vậy trong lời yêu cầu cuối cùng của mình. Muhammad 'alaihis-salam là “Khatam-al-anbiya” (Nhà tiên tri cuối cùng), nghĩa là không có nhà tiên tri nào sẽ kế nhiệm Ngài.

Thuộc tính của các Tiên tri

Ta phải tin rằng mọi nhà tiên tri ('alaihimus-salam) đều có bảy thuộc tính:

1- Ismat: Không hề phạm tội. Các tiên tri không phạm bất cú tội lỗi nào, dù lớn hay nhỏ, đã hoặc sẽ bị cấm trong bất kỳ chân tôn giáo chân nào.

2- Amanat [đáng tin cậy]: Trong mọi khía cạnh, các nhà tiên tri là những người đáng tin cậy. Họ không bao giờ bị mất lòng tin.

3- Sidq: Các nhà tiên tri luôn trung thực trong từng lời nói, hành động và cử chỉ của mình. Họ không hề nói dối.

4- Fatanat: Các nhà tiên tri cực kỳ thông minh và lanh lợi. Nhà tiên tri thì sẽ không có khiếm khuyết như mù hoặc điếc. Tất cả các Nhà tiên tri đều là nam giới. Không có phụ nữ là Nhà tiên tri.

5- Tabligh: Các nhà tiên tri đã học mọi thứ họ tuyên bố bằng wahy (mặc khải) đến từ Allahu ta'ala. Không có điều răn hay lệnh cấm nào họ truyền đạt là xuất phát từ suy nghĩ của cá nhân họ. Họ truyền đạt tất cả những điều họ được lệnh.

6- Adalat [công lý]: Các nhà tiên tri không bao giờ phạm tội ác hoặc đối xử bất công. Họ không đi chệch khỏi công lý vì bất kỳ ai.

7- Amnul-azl: Họ không bị loại khỏi chức vụ Tiên tri. Họ là một Nhà tiên tri trên thế giới này và akhirat. Số lượng các nhà tiên tri không được biết đến. Người ta biết rõ rằng có hơn một trăm hai mươi bốn nghìn người. Trong số họ, có 313 hoặc 315 người là Rasul. Có khoảng một nghìn năm giữa mỗi Rasul.

Sáu rasul cấp cao trong số họ, được gọi là Ulu'l-'azm, là: Adam, Nuh, Ibrahim, Musa, Isa và Muhammad Mustafa 'alaihimus-salatu was-salam. Ba mươi ba nhà tiên tri sau đây rất nổi tiếng: Adam, Idris, Shis (hoặc Shit), Nuh, Hud, Salih, Ibrahim, Lut, Isma'il, Is'haq, Ya'qub, Yusuf, Ayyub, Shu'aib, Musa, Harun, Khidir, Yusha' ibn Nun, Ilyas, Alyasa', Dhu'l-kifl, Sham'un, Ishmoil, Yunus ibn Mata, Dawud, Sulayman, Loqman, Zakariyya, Yahya, 'Uzair, Isa ibn Maryam, Dhu'l-qarnain và Muhammad 'alaihimus-salatu wa-ssalam. Chỉ có tên của 28 người trong số họ được viết trong Qur'an al-karim. Không chắc liệu Dhu'l-qarnain, Loqman, 'Uzair và Khidir có phải là Nhà tiên tri hay không. Trong phần thứ ba mươi sáu của tập thứ hai của Maktubat al-Ma’sumiyya có viết rằng có những tuyên bố xác thực nêu rằng Khidir ‘’alaihis-salam là một Nhà tiên tri. Và trong khải thư thứ một trăm tám mươi hai có viết như sau: Việc Khidir ‘alaihis-salam xuất hiện trong trạng thái con người (thỉnh thoảng) và cũng làm một số việc, không có nghĩa rằng ngài ấy còn sống. Allahu ta’ala đã cho phép linh hồn của ngài, cũng như linh hồn của nhiều Nhà tiên tri và Awliya khác được xuất hiện dưới hình dạng con người. Việc nhìn thấy họ không chứng tỏ rằng họ còn sống.

5- Tin vào Akhirat (Đời sau)

Wal yawmil akhiri: Nó có nghĩa là “Tôi tin vào ngày akhirat.” Nó bắt đầu vào ngày một người chết và tiếp tục cho đến khi kết thúc phán xét (Ngày tận thế). Nó được gọi là “Ngày cuối cùng” vì không có đêm nào đến sau nó, hoặc vì nó đến sau thế giới. Người ta không biết khi nào phán xét sẽ xảy ra. Tuy nhiên, Vị tiên tri của chúng ta (sallallahu 'alaihi wa sallam) đã chỉ ra nhiều điềm báo của nó: Kiến thức tôn giáo sẽ bị lãng quên. Tệ nạn và cái ác sẽ gia tăng. Những người vô thần, vô đạo đức, vô danh sẽ chịu trách nhiệm. Các mệnh lệnh của Allahu ta'ala sẽ bị cấm. Haram sẽ được thực hiện ở khắp mọi nơi. Hadrat Mahdi sẽ đến; Isa 'alaihis-salam sẽ giáng xuống Damascus từ trên trời; Dajjal sẽ xuất hiện; những người được gọi là Ya'juj và Ma'juj sẽ khiến toàn thế giới hỗn loạn; mặt trời sẽ mọc từ phía Tây. Động đất dữ dội sẽ xảy ra; một đám cháy sẽ bùng phát ở Yemen; bầu trời và núi non sẽ nứt thành từng mảnh; mặt trời và mặt trăng sẽ tối dần; biển sẽ hòa vào nhau, sôi lên và khô cạn…5

Một người Muslim phạm tội được gọi là fasiq. Những người fasiq và tất cả những người không tin sẽ bị hành hạ trong mồ. Những sự thật này chắc chắn phải được tin tưởng.

Việc hỏi trong mồ là thật. Sau khi chôn cất, người chết sẽ có một cuộc sống không xác định và sẽ được ban phước hoặc bị hành hạ. Như đã tuyên bố trong hadith ash-sharif, hai thiên thần tên là Munkar và Nakir, dưới hình dạng của hai người đáng sợ vô danh, sẽ đến mộ và hỏi người ấy.6 Theo một số học giả, những câu hỏi trong mồ sẽ liên quan đến một số nguyên tắc cơ bản của đức tin, hoặc về toàn bộ đức tin theo một số người khác. Vì lý do này, chúng ta phải dạy con mình những câu hỏi và câu trả lời cho những câu hỏi sau đây và ghi nhớ chúng:

“Rabb của các ngươi là ai? Tiên tri của các ngươi là ai? Tôn giáo của các ngươi là gì? (Tên của) Thiên kinh của các ngươi là gì? Qibla của các ngươi ở đâu? Madhhab của các ngươi trong đức tin và trong amal (sự thờ phượng) là gì?”

“Rabb của tôi là Allah. Tiên tri của tôi là Muhammad ‘alaihis-salam. Tôn giáo của tôi là Islam. Thiên kinh của tôi là Qur’an al-karim. Qibla của tôi là Ka’ba. Madhhab của tôi trong

“Nói salawat với ta nó sẽ là một hào quang cho ngươi trên cầu Sirat.” Hadith ash-sharif

đức tin là Ahl as-sunnah wal-jama’at, và madhhab của tôi trong sự thờ phượng là madhhab của Imam al-a’zam Abu Hanifa.”

Trong Tadhkira al-Qurtubi có viết rằng những ai không phải là Ahl as-sunnah sẽ không thể trả lời đúng. Mộ của những ai có câu trả lời đẹp sẽ to ra, và một cửa sổ sẽ mở ra phía Thiên đàng. Mỗi sáng tối, họ sẽ thấy vị trí của mình ở Thiên đàng, và các thiên thần sẽ ban ơn cho họ và mang đến cho họ tin tốt lành. Ai không trả lời đúng sẽ bị đánh rất dã man bằng vồ sắt đến nỗi mọi sinh vật trừ con người và jinn đều nghe thấy tiếng kêu la của hắn. Mộ của hắn sẽ trở nên chật chội và sẽ siết chặt hắn như thể muốn đan xen xương của hắn với nhau. Một lỗ hổng sẽ mở ra hướng Địa ngục. Mỗi sáng tối, hắn sẽ thấy vị trí của mình ở Địa ngục. Hắn sẽ bị trừng phạt cay đắng trong mộ cho đến khi Phục sinh. Cần phải tin vào cuộc sống sau khi chết. Xác thịt và xương sau khi mục nát và biến thành đất và khí, chúng sẽ lại hợp nhất với nhau; linh hồn sẽ nhập vào cơ thể của chúng, và mọi người sẽ trỗi dậy từ nấm mồ của họ.

Do đó, đây là thời điểm của Ngày Phán xét (Ngày sống dậy). Tất cả các sinh vật sẽ tụ họp tại Mahshar (nơi tụ họp). Các sổ ghi chép hành vi sẽ đến với chủ nhân của chúng. Allah toàn năng, Đấng sáng tạo ra trái đất, bầu trời, các vì sao và tất cả các vi hạt, sẽ cho tất cả những điều này diễn ra. Rasul của Allahu ta'ala's Rasul, Giáo chủ của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam), đã nói rằng những điều này sẽ xảy ra. Chắc chắn, lời của Ngài luôn đúng. Tất cả chắc chắn sẽ xảy ra. Sổ hành vi của những hảo tín đồ (salih), những người tốt, sẽ được trao cho họ từ bên phải, và những người tội lỗi (fasiq), những người bất hảo sẽ được trao từ phía sau hoặc bên trái của họ. Mọi hành động, tốt hay xấu, lớn hay nhỏ, bí mật hay công khai, sẽ được ghi vào sổ đó. Những hành động, ngay cả những hành động mà các thiên thần Kiraman katibin cũng không được biết, sẽ được tiết lộ thông qua sự chứng kiến ​​của các bộ phận của con người, và bởi Allahu ta'ala, người biết tất cả, và sẽ có tra hỏi và giải quyết về mọi hành động. Tại Mahshar, mọi hành động bí mật sẽ được tiết lộ nếu Allahu ta’ala muốn như vậy. Các thiên thần sẽ được hỏi, “Các ngươi đã làm gì trên thế gian và trên trời?” Các nhà tiên tri sẽ được hỏi, “Các ngươi đã truyền đạt mệnh lệnh của Allahu ta’ala cho các tôi tớ của Người như thế nào?” Và mọi người sẽ được hỏi, “Các ngươi tuân theo các nhà tiên tri như thế nào, các ngươi đã thực hiện các nhiệm vụ được mặc khải như thế nào? Các ngươi tuân thủ các quyền của nhau như thế nào?” Tại Mahshar, những người có đức tin, hành động và đạo đức tốt đẹp sẽ được khen thưởng và ban phước, và những người có đạo đức xấu, hành vi sai trái sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Allahu ta'ala, theo công lý, sẽ trừng một số người Muslim vì những lỗi nhẹ, và với Lòng thương xót của Người, sẽ tha thứ cho mọi tội lỗi nặng và nhẹ của một số người Muslim khác mà Người muốn. Ngoại trừ kẻ vô đức tin (kufr) và những người đa thần giáo (shirk), Người sẽ tha thứ mọi tội lỗi nếu Người muốn, và Người sẽ hành hạ chỉ vì một tội lỗi nhẹ nếu Người muốn. Người phán rằng Người sẽ không bao giờ tha thứ cho những người đã chết vì sự vô đức tin và người đa thần giáo. Những kẻ đã không tin có hoặc không có Thiên Kinh, nghĩa là những kẻ không tin rằng Muhammad 'alaihis-salam là Vị tiên tri của toàn thể nhân loại và những kẻ không chấp nhận bất cứ quy tắc (lệnh truyền và lệnh cấm) nào mà Ngài đã truyền đạt, chắc chắn sẽ bị đưa vào Địa ngục và bị đoạ đày vĩnh viễn nếu họ chết trong sự vô đức tin. Vào ngày phán xét, sẽ có một Mizan (cái cân), không giống như những gì chúng ta biết, để cân đo những việc làm và hành vi. Nó lớn đến mức một trong những bên cân của nó có thể chứa được cả đất và trời. Phần cân cho những việc làm tốt sẽ sáng và ở bên cạnh Arsh nơi có Thiên đàng, và phần cân cho những tội lỗi sẽ tối và ở bên cạnh Arsh nơi có Địa ngục. Những hành động, lời nói, suy nghĩ và vẻ ngoài đã làm ở thế gian sẽ hình thành ở đó, và những việc làm tốt sẽ hiện lên sáng rực và những điều xấu xa hiện lên tối tăm và xấu xí sẽ được cân trên chiếc cân này, không như những chiếc cân của thế gian. Người ta nói rằng phần cân nặng hơn sẽ đi lên, và phần cân nhẹ hơn sẽ đi xuống. Theo một số học giả, sẽ có nhiều loại cân khác nhau. Sẽ có một cây cầu tên là Sirat, bắc qua Địa ngục theo lệnh của Allahu ta’ala. Mọi người sẽ được lệnh phải băng qua cây cầu đó. Ngày đó, tất cả các tiên tri sẽ cầu xin, “Lạy Allah! Xin hãy ban cho sự cứu rỗi!” Những người sẽ đến Thiên đàng sẽ băng qua cây cầu một cách dễ dàng. Một số người sẽ đi qua cầu với tốc độ của tia chớp, một số khác với tốc độ của gió, và một số khác thì như một con ngựa phi nước đại. Cầu Sirat mỏng hơn một sợi tóc và sắc hơn lưỡi kiếm. Việc tuân theo Islam trong thế giới này cũng có tương tự như vậy; việc tuân thủ hoàn toàn với Islam giống như băng qua Sirat. Những ai chịu được khó khăn khi đấu tranh với nafs của họ sẽ dễ dàng băng qua Sirat. Vì thế, Allahu ta’ala gọi con đường đúng đắn, được Islam chỉ ra là “Sirat al-mustaqim”. Sự giống nhau về tên gọi này cho thấy rằng việc đi theo con đường của Islam cũng giống như băng qua Sirat. Những ai phù hợp với Địa ngục sẽ rơi khỏi Sirat xuống Địa ngục. Tin vào Cầu Sirat là điều bắt buộc. Bởi vì Cầu Sirat được nêu trong Nass (Qur'an al-karim và hadith ash-sharifs). Trong Kinh Qur'an al-karim có nêu, bằng maal, “Hãy đưa họ đến con đường của Địa ngục! Vì họ phải thế. (Hãy giam giữ họ vào một nơi! Họ sẽ bị gọi đến để giải trình; họ sẽ bị hỏi về những gì họ tin và những gì họ đã làm.)” [Saffat: 23, 24] Trong sách Nuhbat-ul-leali, có viết: Sirat là một cây cầu bắc qua Địa ngục. Có nêu trong một ayat al-karima, bằng maal, “Không một ai trong các ngươi mà không đi qua đó.” [Maryam: 71] Các học giả của Ahl as-sunnah đã giải thích ayat al-karima “Các ngươi sẽ đi qua đó” là đi qua Sırat. [Birgivi Vasiyetnamesi] Hadith ash-sharifs có ghi: “Cầu Sırat ở bên trên trên Địa ngục. Ta sẽ là Vị tiên tri đầu tiên đi qua đó cùng với cộng đồng của mình.” [Bukhari] “Bất kỳ ai yêu Ahl al-bayt và các Ashab của ta sẽ không trượt chân té ngã khi qua Cầu Sirat.” [Daylami] “Vào ngày phán xét, ta sẽ đứng ở đầu cầu Sirat và chờ cộng đồng của ta đi qua. Allahu ta’ala sẽ phán, ‘Hãy cầu xin điều gì ngươi muốn, cầu thay cho ai ngươi muốn, lời cầu thay của ngươi sẽ được chấp nhận.’ Sau khi cầu thay cho cộng đồng của mình, ta sẽ tiếp tục cầu xin. Cho đến khi Rabb của ta nói, ‘Hãy đưa những ai trong cộng đồng của ngươi đã từng nói La ilaha illallah chân thành và chết với đức tin vào Thiên đàng,’ ta sẽ không đứng dậy.” [Imam Ahmad] “Đi qua Cầu Sirat phụ thuộc vào hào quang của mỗi người. Một số sẽ đi qua trong chớp mắt, một số giống như tia chớp, một số như một ngôi sao băng, một số giống như một con ngựa phi nước đại. Người có ít hào quang sẽ bò sấp mặt. Tay và chân của anh ta sẽ trượt, và anh ta sẽ cố bám lại. Cuối cùng, anh ta sẽ thoát khỏi việc bò. ”[Tabarani] “Không có Ahl al-bid’at nào có thể vượt qua Sirat; họ sẽ rơi vào Địa ngục.” [Ibn Asakir] “Nhiều người, không hề biết rằng họ đã băng qua Sirat, họ sẽ hỏi các thiên thần: Sirat và Địa ngục ở đâu? Chúng ta đã vượt qua chúng chưa? Các thiên thần sẽ trả lời: Ngươi đã vượt qua Sirat qua Địa ngục. Tuy nhiên, ngọn lửa của Địa ngục đã rút lui và bao phủ khỏi hào quang của ngươi.” [Jami-us-sagir] “Sirat mỏng hơn một sợi tóc, sắc hơn lưỡi kiếm. Các thiên thần sẽ cố gắng cứu những người Muslim. Jabrail (‘alaihis-salam) sẽ ôm ta bằng thắt lưng. Và ta sẽ cầu nguyện, ‘Hỡi Rab! Xin hãy ban sự cứu rỗi cộng đồng của con, xin hãy cứu họ. Vào ngày đó, nhiều người sẽ trượt chân và ngã xuống.” [Bayhaqi]

Một số người trong cộng đồng của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta khi sống lại từ nấm mồ, họ sẽ đi thẳng đến Thiên đàng. Các thiên thần sẽ hỏi họ:

- Các người đã được gọi lên giải trình chưa?

- Chưa, chưa được gọi.

- Các người đã đi qua Cầu Sirat chưa?

- Chưa, chúng tôi không thấy cầu Sirat.

- Các người có thấy Địa ngục không?

- Không, chúng tôi cũng không thấy Địa ngục.

- Các người đã làm gì mà không bị gọi đến để giải trình và chưa đi qua Sirat?

- Chúng tôi sẽ cảm thấy xấu hổ trước Allah và không phạm tội ngay cả khi chúng tôi ở một mình Điều còn lại là chúng tôi hài lòng với những gì ít ỏi mà Allah ban cho chúng tôi. Chính nhờ hai phẩm chất này mà chúng tôi đã nhận được ân huệ đó. Các thiên thần sẽ nói: Những ân huệ này là quyền lợi của các bạn. [Ibn Hibban] Khi nhắc đến Cầu Sirat, chúng ta không nên hiểu rằng nó giống như những cây cầu mà chúng ta đã biết. Quả thực, chúng ta hiểu rằng cần phải vượt qua cây cầu kiểm tra để vượt qua khóa học. Tuy nhiên, một kỳ thi không giống với việc đi qua một cây cầu theo bất kỳ cách nào. Như vậy, Cầu Sirat không giống những cây cầu trong sự hiẻu biết hoặc cây cầu kiểm tra chút nào.7 Sẽ có một vùng nước được gọi là Hawd al-Kawthar dành riêng cho Giáo chủ Muhammad Mustafa (sallallahu 'alaihi wa sallam) của chúng ta. Nó sẽ rộng lớn như một cuộc hành trình kéo dài một tháng. Nước của nó trắng hơn sữa và mùi thơm của nó dễ chịu hơn xạ hương. Những chiếc cốc uống nước xung quanh nó nhiều hơn cả các vì sao. Một người uống nước của nó sẽ không bao giờ khát nữa, ngay cả trong Địa ngục. Shafa’at (lời cầu bầu) là thật. Các nhà tiên tri, Wali, người Muslim ngoan đạo, các thiên thần và những người được Allahu ta’ala cho phép sẽ cầu bầu để tha thứ cho những tội lỗi nhẹ và nghiêm trọng của những người Muslim chết mà không ăn năn, và lời cầu bầu của họ sẽ được chấp nhận. Thiên đàng và Địa ngục hiện đang tồn tại. Thiên đàng ở trên bảy tầng trời. Địa ngục ở dưới mọi thứ. Có tám Thiên đàng và bảy Địa ngục. Thiên đàng lớn hơn trái đất, mặt trời và các tầng trời, và Địa ngục lớn hơn mặt trời rất nhiều. “Thế giới này là nhà tù đối với người Muslim.” [Hồi giáo] “Thế giới là một Thiên đàng so với tử cung, nhưng là một bãi rác so với Thiên đàng.” [Ma’rifetname] Một bãi rác có thể so sánh với Thiên đàng không? Vì một đứa trẻ trong bụng mẹ không thể biết rằng mình sẽ đến thế giới này và trải qua nhiều sự kiện khác nhau, nên một người Muslim sẽ đến Thiên đàng không thể biết được những phước lành mà mình sẽ nhận được ở đó. Hadith ash-sharif có ghi rằng, “Ở Thiên đàng, có những phước lành mà không ai nhìn thấy, nghe thấy hoặc có thể tưởng tượng được.” [Hồi giáo] “Giữa những phước lành của Thiên đàng và những phước lành của thế giới, sự giống nhau chỉ nằm ở tên gọi của chúng.” [Bayhaqi] Nếu một người tin vào Sức mạnh vô tận của Allahu ta’ala, thì anh ta phải tin mọi điều Người đã tuyên bố. Janab al-Haqq nói rằng sẽ không có rắc rối nào ở Thiên đàng và rằng người dân Thiên đàng sẽ được ban cho mọi phước lành mà họ muốn. So với những phước lành của Thiên đàng, những phước lành của thế giới thậm chí còn không giống như cái bóng, hình ảnh của chúng. Vì hình ảnh của một cái cây không giống với một cái cây, nên những phước lành của thế giới cũng vậy bên cạnh những phước lành của Thiên đàng. Vì Allahu ta’ala đã tạo ra những phước lành đặc biệt cho thế giới từ hư không, Ngài sẽ tạo ra những phước lành không thể tưởng tượng được trong akhirat. Không có khó khăn nào đối với Allahu ta’ala. Không có nỗi buồn hay rắc rối nào trong Thiên đàng. Lời phán của một vài ayat al-karimas, “Có phần thưởng lớn nhất và hơn thế nữa (nhìn thấy Allahu ta’ala) cho những ai làm việc thiện. Không có một vết đen (vết nhơ) hay sự sỉ nhục nào bị bôi lên khuôn mặt của họ. Họ là những người của Thiên đàng, và trong đó, họ sẽ ở lại.” [Yunus: 26] “Đối với những người tin tưởng và làm việc thiện, Thiên đàng của Firdaws sẽ là nơi cư trú của họ. Họ sẽ ở đó mãi mãi, không mong muốn bị loại khỏi đó.” [Kahf: 107- 108] “Bất cứ nơi nào bạn nhìn vào Thiên đàng, bạn sẽ thấy vô số hạnh phúc và vinh quang của một vương quốc vĩ đại (sự vĩ đại, phước lành lớn lao).” [Insan: 20] Hadith ash-sharifs có ghi, “Allahu ta’ala đã phán, ‘Ta đã chuẩn bị cho những người ngoan đạo những điều mà mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và con người không thể tưởng tượng được.’” [Bukhari] “Những ai bước vào Thiên đàng sẽ không chết; họ sẽ sống mãi mãi. Họ sẽ luôn hạnh phúc, không bao giờ buồn, không bao giờ cảm thấy tuyệt vọng, quần áo của họ sẽ không bị sờn, và tuổi trẻ của họ sẽ không bao giờ kết thúc.” [Ibn Abiddunya] “Những người của Thiên đàng sẽ không bao giờ bị ốm, già hay buồn; họ sẽ luôn hạnh phúc.” [Muslim] “Nếu một người bước vào Thiên đàng nói, ‘Tôi muốn cưỡi ngựa,’ anh ta sẽ cưỡi ngựa; nếu anh ta nói, ‘Tôi muốn bay,’ anh ta sẽ bay.” [Tirmidhi] “Người ở cấp độ thấp nhất của Thiên đàng sẽ được yêu cầu, ‘Hãy yêu cầu bất cứ điều gì bạn muốn.’ Anh ta sẽ yêu cầu mọi thứ xuất hiện trong tâm trí mình. Người ta sẽ nói với anh ta rằng: ‘Mọi điều anh cầu xin sẽ được ban cho anh gấp đôi.’” [Hồi giáo] “Ở Thiên đàng, mọi người sẽ mãi 33 tuổi.” [Tirmidhi, Kurtubi, Nawawi]

6- Tin vào qadar (tiền định)

Wa bil-qadari khairihi wa sharrihi min-Allahi ta’ala: Tức là, tôi tin vào qadar và rằng thiện (khair) và ác (sharr) đều từ Allahu ta’ala. Thiện và ác, lợi và hại, được và mất, đến với con người đều do Ý chí của Allahu ta’ala. Ý chí vĩnh cửu của Allahu ta’ala về sự tồn tại của một cái gì đó

“ Thề bởi Janab al-Haqq, Đấng đã ban điều thiện và điều ác cho nafs, ai thanh tẩy nafs của mình khỏi tội lỗi, ngu dốt và lạc lối thì sẽ được cứu rỗi. Còn ai để mặc nafs của mình trong những điều đó thì sẽ bị hủy hoại.” Shams: 7-10

được gọi là qadar (tiền định). Sự xuất hiện của qadar, tức là điều được mong muốn, được gọi là qada’. Các thuật ngữ qada’ và qadar cũng được sử dụng thay thế cho nhau. Những điều xảy ra từ cõi vĩnh hằng trong quá khứ đến tương lai vĩnh cửu, những đặc điểm, chuyển động và mọi sự kiện của chúng, đều được Người tạo ra theo những gì Người biết trong thời tiền kiếp. Mọi việc làm thiện và ác của con người, niềm tin hay sự hoài nghi của họ vào Islam, mọi hành động của họ, dù cố ý hay không cố ý, đều được tạo ra bởi Allahu ta’ala. Chỉ một mình Người là Đấng tạo ra và làm nên mọi thứ xảy ra thông qua một sabab (nguyên nhân, phương tiện, trung gian). Người tạo ra mọi thứ thông qua một số phương tiện. Các nhà tiên tri ('alaihimus-salam), những người có trình độ hiểu biết và khoa học cao nhất và có thể thấy rõ thực tế, và các 'ulama của Islam, những người đi theo bước chân của họ, đã đạt được những giọt từ đại dương kiến ​​thức của họ, chỉ ra rằng mỗi thứ được cho là dễ cháy hoặc mang tính xây dựng ngày nay đều là phương tiện nhân quả kém cỏi và không có khả năng được Đấng sáng tạo thực sự đặt làm trung gian. Chỉ có Allahu ta'ala là Đấng đốt cháy. Người cũng có thể đốt cháy mà không cần lửa, nhưng lệ thường của Người là đốt cháy bằng lửa. Nếu Người muốn không đốt cháy, Người ngăn chặn việc đốt cháy ngay cả trong lửa. Người đã không đốt Ibrahim 'alaihis-salam trong lửa. Người đã phá vỡ lệ thường của mình vì Người yêu ngài ấy rất nhiều. Nếu Allahu ta'ala muốn, Người có thể tạo ra mọi thứ mà không cần phương tiện, đốt cháy mà không cần lửa, nuôi dưỡng chúng ta mà không cần chúng ta ăn. Nhưng Người đã làm ơn cho các tôi tớ của Người bằng cách tạo ra mọi thứ thông qua các trung gian. Người muốn tạo ra một số thứ thông qua một số trung gian. Người đã giấu các tác phẩm của mình trong các trung gian. Người che giấu quyền năng của mình đằng sau các trung gian. Kẻ nào muốn Người tạo ra một cái gì đó thì nắm giữ phương tiện của nó và do đó đạt được nó. Kẻ nào muốn thắp đèn thì dùng diêm; kẻ nào muốn chiết xuất dầu từ ô liu thì dùng dụng cụ nghiền; kẻ nào bị đau đầu thì uống một viên aspirin; kẻ nào muốn đến Thiên đàng và đạt được ân huệ vô hạn thì thích nghi với Islam; kẻ nào tự bắn mình bằng súng hoặc uống thuốc độc sẽ chết; kẻ nào uống nước khi đổ mồ hôi sẽ mất sức khỏe; kẻ nào phạm tội và đánh mất đức tin của mình sẽ đến Địa ngục. Bất kỳ một trung gian nào mà một người sử dụng, anh ta sẽ đạt được thứ mà trung gian đó đã trở thành phương tiện. Người nào đọc sách Islam thì học Islam, thích Islam và trở thành người Muslim. Người nào sống giữa những người vô thần và nghe theo những gì họ nói thì trở nên không biết gì về Islam. Hầu hết những người không biết gì về Islam đều trở thành những người vô tín. Khi một người lên xe, anh ta đi đến nơi mà xe được chỉ định đến. Nếu Allahu ta’ala không tạo ra các tác phẩm của Người thông qua những trung gian, thì sẽ không ai cần đến bất kỳ ai khác. Mọi người sẽ hỏi mọi thứ trực tiếp từ Allahu ta’ala và sẽ không có sự cầu viện nào. Sẽ không có mối quan hệ xã hội giữa những người như cấp trên và cấp dưới, quản đốc và công nhân, học trò và giáo viên, v.v., và do đó thế giới này và thế giới bên kia sẽ hỗn loạn, và sẽ không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa đẹp và xấu, tốt và xấu, ngoan ngoãn và nổi loạn.

HÃY XEM NHỮNG GÌ MAWLA LÀM

Haqq biến ác thành thiện,
Đừng nghĩ có ai có thể làm như thế,
Ai khôn ngoan sẽ nhận ra tất cả,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Hãy nên tin vào Haqq,
Nương vào Người đê tìm thấy sự an ủi,
Kiên nhẫn thêm và hãy phục tùng đi,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Hãy gắn chặt trái tim bạn với Người,
Hãy bỏ đi những cách đề phòng,
Hãy cố hiểu ý muốn của Người,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Người là Hallaq và Rahim,
Người là Fa’al và Hakim,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Hãy biết ai có thể đáp ứng mọi người,
Hãy van xin và cầu nguyện với Người,
Hãy xa ròi mọi ham muốn của bạn,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Đừng cố chấp vào mọi thứ,
Nếu nó xảy ra, đừng phản kháng,
Đừng từ chối vì nó đến từ Haqq,
Hãy xem Mawla làm gì,
Mọi sự kiện đều đến từ Haqq,
Nên thật vô lý khi lo lắng và buồn rầu,
Người làm nên hikmat của Ngài,
Hãy xem Mawla làm gì,
Nó thật đẹp, bất kể Người làm gì.
Mọi thứ Người làm đều tuyệt vời,
Nó sẽ luôn phù hợp với nhau,
Người làm thế nào cũng thấy hài hoà.
Hãy xem Mawla làm gì,
Nó thật đẹp, bất kể Người làm gì.
Nỗi buồn trong trái tim bạn, hãy xóa nó đi,
Tìm sự bình yên với Rabb của bạn,
Hãy để mọi thứ cho Người,
Hãy xem Mawla làm gì,
Nó thật đẹp, bất kể Người làm gì.
Thực thi công lý khác với sự tàn ác,
Hãy khuất phục, đừng cháy trong lửa,
Hãy kiên nhẫn thêm, đừng gục ngã,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Đừng hỏi tại sao nó lại như thế,
Nó như thế vì nó phải thế,
Nhìn vào kết cục đó và chịu đựng,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Đừng khinh thường bất kỳ tha nhân,
Đừng tổn thương ai hay làm tim tan vỡ,
Đừng khuyến khích sự tự mãn của mình,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Trong những thời điểm hoàn toàn bất lực,
Vì bạn, những cánh cửa sẽ được Người mở ra,
Những rắc rối của bạn, Người sẽ xoá,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.
Hãy nhắc đến Người mọi lúc,
Hãy gạt bỏ tâm trí, hãy quên mình đi,
Hãy là người kính yêu Haqq và nói,
Hãy xem Mawla làm gì,
Thật tuyệt vời, bất kể Người làm gì.

Ibrahim Haqqi Erzurumi

Allahu ta’ala đã tạo ra irada (ý chí) trong những tôi tớ của Người và biến ý chí và sự mong muốn này thành phương tiện khiến họ hành động. Khi một tôi tớ của Người muốn làm điều gì, Allahu ta’ala cũng có thể tạo ra hành động đó nếu Người muốn. Nếu tôi tớ không muốn hoặc không cầu mong, thì Allahu ta’ala cũng không muốn, và Người không tạo ra điều đó. Hành động tự nguyện của con người xảy ra khi có hai yếu tố. Đầu tiên, có liên quan đến ý chí và sức mạnh của người đó. Về vấn đề đó, hành động của con người, tức là tay chân thực hiện điều mà một người định làm, được gọi là kesb (sự tiếp thu), đây là một thuộc tính của con người. Thứ hai, sự sáng tạo của Allahu ta’ala diễn ra. Các mệnh lệnh, lệnh cấm, phần thưởng và sự hành hạ của Allahu ta’ala đều là vì kesb đã được ban cho con người. Allahu ta’ala biết mọi thứ trong quá khứ và tương lai bằng Kiến thức Hằng Hữu của Người. Ví dụ, Người biết liệu một người vô đức tin có thể mãi mãi là như thế hay không. Người biết mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào. Tất cả các loài động thực vật, các vật vô tri như chất rắn, lỏng, khí, các vì tinh tú, các phân tử, nguyên tử, electron, sóng điện từ, tất cả những chuyển động của mọi tạo vật, các sự kiện vật lý, các phản ứng hóa học và hạt nhân, các mối tương quan năng lượng, sinh lý trong các sinh vật, sự tồn tại hay biến mất của mọi thứ, những tốt và xấu của con người, hình phạt của họ ở thế gian và ở thế giới bên kia và mọi thứ đều có trong Kiến thức của Allahu ta'ala về kiếp trước. Người biết tất cả về kiếp trước. Những thời điểm ặt trời mọc và lặn, mặt trời không mọc và không lặn đã biết vì nó được ghi như vậy trên lịch. Việc nó được ghi trên lịch không ảnh hưởng đến việc mặt trời lặn và mọc. Cũng như thế, vì Allahu ta'ala biết mọi điều sẽ xảy ra, Người đã viết chúng trên lawh al-mahfiz. Allahu ta’ala phán rằng một số người sẽ không may mắn là vì họ muốn mãi mãi trong sự vô tín và không muốn có đức tin theo ý chí của riêng họ. Nếu không, họ đã là những người vô tín ngưỡng không phải vì Allahu ta’ala phán như vậy. Allahu ta’ala nói trong Qur’an al-karim, “Janab al-Haqq đã dạy điều tốt và điều xấu (hay sự thờ phượng và tội lỗi) và ban cho mọi người ý chí (quyền lựa chọn, irada al-juz’iyya) để làm một trong những điều đó. Người nào thanh lọc dục vọng của mình (người thanh tẩy nó khỏi điều ác và lấp đầy nó bằng đức hạnh) sẽ được cứu rỗi. Người nào để dục vọng của mình ngập trong tội lỗi, ngu dốt và lệch lạc sẽ bị hủy diệt.” [Ash Shams 7-10] Mọi người được tự do sử dụng irada al-juz’iyya (ý chí nhỏ bé) của mình; họ không bị ép buộc. Nghĩa là, nếu irada al-juz’iyya được sử dụng để làm điều thiện, Allahu ta’ala sẽ tạo ra điều thiện; nếu nó được sử dụng để làm điều ác, Allahu ta’ala sẽ tạo ra điều ác. [Luận thuyết Irada al-juz’iyya] Điều đó có nghĩa là, Người ban điều thiện cho những ai muốn điều thiện, và họ trở nên may mắn. Người ban điều ác cho những ai muốn điều ác, và họ trở nên bất hạnh. Không có sự ép buộc nào ở đây. Allahu ta’ala không bắt mọi người phạm tội bằng vũ lực và ném họ vào Địa ngục bằng vũ lực. Nói chung, không có sự bất công. Allahu ta’ala thông báo rằng Người sẽ thưởng cho những tôi tớ của Người thực hiện các điều răn và kiềm chế các điều cấm, và trừng phạt những kẻ làm ngược lại.

NỀN TẢNG CỦA ISLAM

Có năm nhiệm vụ cơ bản thiết yếu (tức là phải tuyệt đối thực hiện) đối với người Muslim theo Islam. Đó là;

1- Nhiệm vụ đầu tiên trong năm nhiệm vụ cơ bản của Islam là đọc Kalima ash shahada; tức là đọc, “Ash-hadu an la ilaha illallah wa ash-hadu anna Muhammadan ’abdihu wa rasiluhi.” Nói cách khác, một người minh mẫn, đã đến tuổi dậy thì và có thể nói phải nói và tin chắc chắn và toàn tâm toàn ý rằng, “Trên trái đất hay trên trời, không có ai ngoài Allahu ta’ala đáng được tôn thờ. Đấng thực sự đáng được tôn thờ chỉ duy nhất Allahu ta’ala.” Người là wajib al-wujid. Người có mọi sự vượt trội. Người không có lỗi lầm. Tên của Người là “Allah”. Một lần nữa, người đó có khuôn mặt trắng đỏ, sáng, đáng yêu màu hồng với lông mày đen và mắt đen, trán rộng, tính tình ôn hòa, lưỡi ngọt ngào, sinh ra tại Mecca ở Ả Rập, dòng dõi Hashimi, “Muhammad, con trai của Abdullah là tôi tớ và rasil, tức là Nhà tiên tri, của Allahu ta'ala.” Mẹ của Ngài là Hadrat Amina, con gái của Wahab. Và alhamdulillah, Ngài là Nhà tiên tri yêu dấu của chúng ta (sall Allahu 'alaihi wa sallam).

2- Nền tảng thứ hai của Islam là thực hiện salat (lễ cầu nguyện nghi lễ, salat) năm lần một ngày theo các điều kiện của nó và fards khi đến giờ salat. Kể từ Adam 'alaihis-salam, salat chỉ được thực hiện một lần một ngày trong mọi tôn giáo. Tất cả những gì đã được thực hiện đã được tập hợp lại và được tạo thành fard (mệnh lệnh) cho những người tin vào Muhammad 'alaihis-salam. Mặc dù thực hiện salat không phải là một trong những nguyên tắc của đức tin, nhưng điều cần thiết đối với đức tin là tin rằng salat là fard. Fard al-ayn là lệnh cho mọi người Muslim mukallaf (tâm trí minh mẫn và đã đến tuổi dậy thì) thực hiện năm lần salat mỗi ngày. Năm lần salat được lệnh thực hiện vào đêm Mi'raj. Trước Mi'raj, chỉ có salat vào buổi sáng và buổi chiều muộn.

3- Nguyên tắc cơ bản thứ ba của Islam là bố thí zakat tài sản của mình. Nghĩa đen của zakat là sự trong sạch, ca ngợi và trở nên tốt đẹp. Trong Islam, zakat có nghĩa là một người có tài sản zakat, nhiều hơn mức anh ta cần và ở một số lượng nhất định gọi là nisab, để tách một số lượng tài sản nhất định của mình và trao cho người Muslim được phán trong Qur'an al-karim mà không phô trương. Có bốn loại zakat trong tất cả bốn madhhab: zakat vàng và bạc, zakat hàng hóa thương mại, zakat gia súc bốn chân đã gặm cỏ trên đồng hơn nửa năm và zakat tất cả các loại cây trồng mọc ra từ đất. Loại zakat thứ tư này, được gọi là 'ushr, được đưa ra ngay sau khi thu hoạch mùa màng. Ba loại còn lại được đưa ra một năm sau khi chúng đạt đến số lượng nisab.

4- Trụ cột thứ tư của Islam là nhịn ăn (sawm) mỗi ngày trong tháng Ramadan ash-sharif. Nhịn ăn được gọi là Sawm. Về mặt ngôn ngữ, "sawm" có nghĩa là bảo vệ một thứ khỏi một thứ khác. Trong Islam, sawm có nghĩa là tự bảo vệ mình khỏi ba điều trong suốt ban ngày của tháng Ramadan. Ba điều này là: ăn, uống và quan hệ tình dục.

“Trong Qur’an al-karim, mọi thứ cần thiết cho tôi tớ được sinh ra đều đã được phán; những người vô đức tin sẽ sợ hãi sự dày vò, và những người Muslim tuân thủ các quy tắc của Islam sẽ được loan tin mừng về Thiên đàng..” Imam ar-Rabbani (rahmatullahi ’alaih)

5- Nguyên tắc cơ bản thứ năm của Islam thực hiện hajj (hành hương) một lần trong đời. Đối với một người có đủ khả năng, có đủ tiền để đi đến thành phố Mecca và quay về, ngoài tài sản mà anh ta để lại đủ để trang trải cho gia đình cho đến khi anh ta trở về, thì việc thực hiện tawaf xung quanh Ka'ba và thực hiện waqfa (tạm dừng) trên đồng bằng Arafat, trong một chiếc ihram, là điều bắt buộc một lần trong đời, miễn là an toàn đường đi và cơ thể khỏe mạnh.

Hãy đến, chúng ta hãy cầu nguyện, hãy lau sạch gỉ sét khỏi trái tim,
Nếu không cầu nguyện bạn không thể đến gần Allah!
Bất cứ khi nào cầu nguyện, tất cả tội lỗi đều tan biến,
Một người không thể đạt đến sự hoàn hảo nếu không cầu nguyện!
Trong kinh Qur'an al-karim, Haqq đã ca ngợi cầu nguyện rất nhiều,
Ông ấy nói rằng tôi sẽ không thích một người nếu không cầu nguyện!
Trong một hadith ash-sharif, có nói rằng, dấu hiệu của đức tin,
Không biểu hiện trên một người nếu không cầu nguyện!
Không cầu nguyện một lần là một tội lỗi nghiêm trọng,
Sẽ không được tha thứ nếu không cầu nguyện kada!
Hễ ai coi cầu nguyện là không quan trọng, sẽ lạc đức tin ngay lúc đó,
Người đó sẽ không trở thành người Muslim nếu không cầu nguyện!
Cầu nguyện thanh lọc trái tim, ngăn chặn nó khỏi mọi điều xấu xa,
Nếu không cầu nguyện bạn không thể giác ngộ!

HÀNH LỄ SALAT

Nguyên tắc cơ bản thứ hai trong năm nguyên tắc cơ bản của Islam là thực hiện salat. Fard là mỗi người Muslim thực hiện salat năm lần mỗi ngày khi đến thời điểm của họ và biết rằng họ đang thực hiện từng lần một vào thời điểm đó. Salat phải được thực hiện chú ý đến fard, wajib và sunnah của nó, quy phục trái tim vì Allahu ta'ala và trước khi thời gian quy định kết thúc. Trong Qur'an al-karim, salat được gọi là "Salat". Theo nghĩa đen, Salat có nghĩa là lời cầu nguyện của mọi người, lời nói của các thiên thần istighfar (cầu xin sự tha thứ thay mặt cho mọi người) và Allahu ta'ala có lòng trắc ẩn và thương hại. Trong Islam, "Salat" có nghĩa là thực hiện một số hành động nhất định và đọc một số điều theo cách chúng được viết trong các sách ilmihal.

Sự quan trọng của salat

Salat là phước lành vĩ đại nhất, quan trọng nhất và đẹp đẽ nhất mà Allahu ta’ala ban cho người Muslim vì tình yêu dành cho Vị Tiên tri kính yêu của chúng ta. Salat là trụ cột của tôn giáo. Người thực hiện các salat của mình liên tục, đúng đắn và đầy đủ sẽ thiết lập được tôn giáo của mình và anh ta sẽ làm cho tòa nhà Islam vẫn nguyên vẹn. Người không thực hiện salat sẽ phá hủy tôn giáo của mình và tòa nhà Islam. Vị Tiên tri của chúng ta (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã nói, “Đầu của tôn giáo chúng ta là salat.” Vì không con người nào có thể sống mà không có đầu, nên không thể có tôn giáo mà không có salat. Trong Islam, salat là mệnh lệnh đầu tiên sau khi có đức tin. Allahu ta’ala đã thực hiện salat fard để tôi tớ của Người chỉ thờ phụng Người. Allahu ta’ala ra lệnh, “Thực hiện salat!” trong hơn một trăm câu của Qur’an al-karim. Trong một hadith ash-sharif, có tuyên bố, “Allahu ta’ala ra lệnh thực hiện salat năm lần mỗi ngày. Allahu ta’ala đã hứa rằng Người sẽ đưa vào Thiên đàng người thực hiện salat một cách tôn trọng và tuân thủ các điều kiện năm lần mỗi ngày.” Salat là sự thờ phượng có giá trị nhất được ra lệnh trong tôn giáo của chúng ta. Một hadith ash-sharif tuyên bố, “Một người không thực hiện salat thì không có phần trong Islam!” Trong một hadith ash-sharif khác, có nói rằng, “Chính salat phân biệt người Muslim với kẻ không tin”, nghĩa là người có đức tin thực hiện salat, còn kẻ không tin thì không. Thực hiện salat là nghĩ về sự vĩ đại của Allahu ta’ala và nhận ra sự thấp kém của chính mình trước Người. Một người nhận ra điều này sẽ luôn làm điều tốt. Người đó sẽ không bao giờ làm điều xấu. Nếu một người có ý định ở trước mặt Rabb (Allah) của mình năm lần mỗi ngày, trái tim của người đó sẽ tràn ngập ikhlas. Mỗi hành động được ra lệnh phải thực hiện trong salat đều mang lại nhiều lợi ích khác nhau cho trái tim và cơ thể. Thực hiện salat trong jama’at tại các nhà thờ Islam sẽ gắn kết trái tim của những người Muslim với nhau. Nó sẽ mang lại tình yêu giữa họ. Họ sẽ nhận ra rằng họ là anh em. Những người cao tuổi sẽ hòa nhã với những người trẻ tuổi. Và những người trẻ tuổi sẽ tôn trọng những người cao tuổi. Người giàu sẽ giúp đỡ người nghèo và người quyền lực sẽ giúp đỡ người yếu đuối. Những người khỏe mạnh sẽ đến thăm người tàn tật tại nhà của họ vì những người ấy sẽ nhớ họ trong nhà thờ Islam. Để được ban phước với tin vui được đưa ra trong hadith, “Allah sẽ giúp đỡ cho ai chạy đến giúp đỡ huynh đệ Muslim của mình”, họ sẽ cạnh tranh với nhau.

“Ai không thực hiện salat thì chẳng nhận được lợi lộc gì từ Islam!” Hadith ash-sharif

Salat ngăn cản mọi người làm những điều xấu xa, tệ hại và bị cấm. Nó trở thành sự chuộc tội. Trong một hadith ash-sharif, có tuyên bố, “Năm lễ nguyện hàng ngày giống như một dòng sông chảy trước nhà bạn. Nếu ai tắm trong dòng sông đó năm lần mỗi ngày, sẽ chẳng còn bụi bẩn nào trên người anh ấy. Cũng như thế, những tội lỗi nhỏ của người thực hiện năm lễ nguyện mỗi ngày sẽ được tha thứ.” Sau khi có đức tin vào Allahu ta'ala và Rasul của Người, salat cao hơn tất cả các việc làm và sự thờ phượng khác. Do đó, cần phải thực hiện nó bằng cách tuân thủ fard, wajib, sunnah và mustahab của nó. Vị tiên tri của chúng ta (sallallahu 'alaihi wa sallam) đã tuyên bố trong một trong những hadith ash-sharif của Ngài, “Hỡi cộng đồng (cộng đồng) và các Ashab của ta! Một lễ nguyện được thực hiện với việc tuân thủ hoàn toàn các quy tắc của nó là hành động cao quý nhất trong tất cả các hành động mà Allahu ta'ala yêu thích. Đó là sunnah của các nhà tiên tri. Nó được các thiên thần yêu thích. Đó là ánh sáng của ma’rifat, của trái đất và bầu trời (ma’rifat: kiến ​​thức liên quan đến Dhat [Người] và Thuộc tính của Allahu ta’ala). Đó là nguồn sức mạnh của bản thân. Đó là nguồn nuôi dưỡng dồi dào. Nó khiến những lời khấn nguyện được chấp nhận. Đó là sự cầu thay chống lại thần chết. Đó là ánh sáng trong ngôi mộ và là câu trả lời cho Munkar và Nakir (những thiên thần chất vấn trong ngôi mộ). Đó là bóng râm che ta vào ngày phán xét. Đó là một chiến hào giữa ngăn ta với ngọn lửa của Địa ngục. Nó khiến người ta vượt qua Cầu Sirat như tia chớp. Đó là chìa khóa của Thiên đàng. Đó là vương miện của một người trong Thiên đàng. Allahu ta’ala đã không ban tặng bất cứ điều gì quan trọng hơn salat cho những người có đức tin. Người sẽ ban cho những ai có đức tin bất kỳ sự thờ phượng nào khác trước tiên nếu có một sự thờ phượng cao hơn. Bởi vì, một số thiên thần liên tục ở trong qiyam, một số ở ruki’, một số ở sajda, một số ở tashahhud. Người đã tập hợp tất cả những thứ này vào một rak’at salat và tặng chúng như một món quà cho những người có đức tin. Vì salat là đầu của đức tin, trụ cột của tôn giáo, lời của Islam và mi’raj của những người có đức tin. Đó là ánh sáng của bầu trời. Đó là sự giải cứu khỏi Địa ngục.” Một ngày nọ, Hadrat Ali (radiyallahu ‘anh và karramallahu wajhah) không thể thực hiện salat vào cuối buổi chiều đúng giờ. Trong cơn đau đớn, ông đã tự ném mình xuống từ một ngọn đồi. Ông rên rỉ, khóc lóc. Khi Tiên tri của chúng ta Muhammad Mustafa (sallallahu ‘alaihi wa sallam) biết được tình hình, cùng với Ashab của Ngài, Ngài đã đến Hadrat Ali (radiyallahu ‘anh). Khi Ngài nhìn thấy tình trạng của ông, Tiên tri của chúng ta, Chúa tể của các thế giới (sallallahu ‘alaihi wa sallam), cũng bắt đầu khóc. Ngài đã cầu nguyện Allahu ta’ala. Mặt trời lại xuất hiện. Giáo chủ Rasilullah của chúng ta (sallallahu 'alaihi wa sallam) đã nói với Hadrat Ali, “Hỡi Ali! Hãy ngẩng đầu lên. Mặt trời vẫn còn nhìn thấy được.” Hadrat Ali (radiyallahu 'anh) rất vui mừng. Ông đã thực hiện salat của mình. Một đêm nọ, Hadrat Abi Bakr as-Siddiq (radiyallahu 'anh) đã lễ nguyện rất nhiều và ngủ thiếp đi vào cuối đêm. Thời gian witr salat đã trôi qua. Vào buổi salat buổi sáng, ông đã đi theo Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Ông đến cổng của masjid và khóc. Ông cầu xin, “Hỡi Rasulallah! Hãy giúp tôi, thời gian witr salat của tôi đã trôi qua.” Giáo chủ Rasilullah của chúng ta cũng bắt đầu khóc. Khi đó, Jabrail 'alaihis-salam đến và nói, “Hỡi Rasilullah! Hãy nói với Siddiq rằng Allahu ta'ala đã tha thứ cho anh ta.”

Một đêm nọ, Hadrat Bayazid al-Bistami (quddisa sirruh), một trong những người đáng kính của awliya, không thể thức dậy để thực hiện nghi lễ salat buổi sáng. Ông khóc và rên rỉ nhiều đến nỗi nghe thấy một giọng nói, “Hỡi Bayazid! Ta đã tha thứ cho lỗi lầm này của ngươi. Ta đã ban cho ngươi phần thưởng là bảy mươi ngàn salat vì đã khóc lóc.” Vài tháng sau, ông lại chìm vào giấc ngủ. Shaytan (Satan) đến và đánh thức ông bằng cách giữ lấy bàn chân được ban phước của ông. Hắn nói, “Hãy đứng dậy, thời gian salat của ngươi sắp trôi qua rồi!” Hadrat Bayazid al-Bistami hỏi, “Hỡi kẻ đáng nguyền rủa! Tại sao ngươi lại làm như vậy? Ngươi muốn mọi người bỏ lỡ nghi lễ salat của họ, để giết thời gian. Tại sao ngươi lại đánh thức ta?” Shaytan trả lời, “Ngươi đã đạt được phần thưởng của bảy mươi ngàn salat bằng cách khóc lóc vào ngày ngươi bỏ lỡ nghi lễ salat buổi sáng. Xem xét điều này, ta đã đánh thức ngươi để ngươi đạt được phần thưởng chỉ bằng một salat, chứ không phải bảy mươi ngàn salat!” Hadrat Junayd al-Baghdadi, một wali vĩ đại, đã nói, “Một giờ của cuộc sống thế gian này tốt hơn một ngàn năm của phán xét. Vì, trong một giờ này, người ta có thể làm một việc đạo đức và được chấp nhận; tuy nhiên, không thể làm được bất cứ điều gì trong một ngàn năm đó.” Rasilullah (sallallahu 'alaihi wa sallam) đã nói, “Một người cố tình kết hợp hai salat lại với nhau (thực hiện một salat sau khi thời gian của nó kết thúc) sẽ bị thiêu đốt trong Địa ngục trong tám mươi hukba.” Một hukba bằng tám mươi năm akhirat. Một ngày akhirat bằng một ngàn năm thế gian. Do đó, hỡi người anh em trong tôn giáo của tôi! Đừng lãng phí thời gian của bạn vào những thứ vô ích. Hãy trân trọng giá trị của thời gian của bạn. Hãy dành thời gian của bạn để làm những điều tốt nhất. Vị tiên tri đáng kính của chúng ta 'alaihis-salam đã nói, “Tai họa lớn nhất là dành thời gian cho những thứ vô ích!” Hãy thực hiện các salat của bạn đúng thời điểm để bạn không phải hối tiếc vào ngày phán xét, và bạn sẽ đạt được nhiều phần thưởng! Trong một hadith ash sharif, có tuyên bố, “Bảy mươi cửa vào Địa ngục sẽ mở ra cho ngôi mộ của ai đã không thực hiện một trong những lễ nguyện đúng giờ hàng ngày và đã qua đời trước khi thực hiện qada của nó. Anh ta sẽ bị đày đoạ cho đến khi phán xét.” Một người cố tình không thực hiện một salat trong thời gian quy định, nghĩa là, nếu anh ta không hối tiếc vì không thực hiện một salat trong khi thời gian quy định của nó sắp kết thúc, sẽ trở thành một kafir (kẻ không tin) hoặc anh ta sẽ mất đức tin của mình khi anh ta chết. Điều gì sẽ xảy ra với những người thậm chí không nhớ salat hoặc coi salat là một bổn phận? Các học giả của bốn madhhab nhất trí tuyên bố rằng bất kỳ ai coi thường salat, không chấp nhận nó như một bổn phận, sẽ là một Murtad, tức là, kẻ không tin. Ngoài ra, Hadrat Abdulghani Nablusi đã tuyên bố trong cuốn sách của mình “Hadiqatun Nadiyya”, trong chương có tựa đề “Những đau khổ của lưỡi” rằng một người không thực hiện salat một cách có chủ ý và không muốn biến nó thành qada và không sợ rằng mình sẽ bị hành hạ vì lý do này sẽ là một murtad, tức là, kẻ không tin.

Salat fard dành cho ai

Thực hiện năm lần salat hàng ngày là fard al-ayn đối với mọi người Muslim, nam hay nữ, có đầu óc minh mẫn và đã đến tuổi dậy thì. Có ba điều kiện để salat là fard:

1- Là người Muslim. 2- Có đầu óc minh mẫn. 3- Đã đến tuổi dậy thì.

Trong tôn giáo của chúng ta, trẻ nhỏ chưa đạt đến độ trưởng thành về mặt tâm trí và dậy thì

“Bảy mươi cửa sổ của Jahannam sẽ được mở ra trong mộ của người nào không thực hiện một trong những buổi salat hằng ngày đúng thời gian và qua đời trước khi kịp qada (bù lại) nó. Người đó sẽ bị trừng phạt cho đến ngày qiyamat.” Hadith ash-sharif

không chịu trách nhiệm thực hiện salat. Nhưng cha mẹ phải dạy kiến ​​thức tôn giáo cho con cái và làm cho chúng quen với việc thờ phượng. Vị tiên tri của chúng ta (sallallahu ‘alaihi wa sallam) đã nói, “Tất cả các bạn giống như những người chăn cừu! Như một người chăn cừu bảo vệ đàn cừu của mình, các bạn phải bảo vệ những người trong nhà và dưới quyền chỉ huy của mình khỏi Địa ngục! Các bạn phải dạy họ về Islam! Nếu không, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm.” Trong một hadith ash-sharif khác, có nói rằng, “Tất cả trẻ em sinh ra đều phù hợp và thích hợp với Islam. Sau đó, cha mẹ chúng biến chúng thành người theo đạo Thiên chúa, Do Thái hoặc vô thần.” Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của mỗi người Muslim là dạy con cái họ về Islam, đọc kinh Qur'an al-karim, thực hiện salat và các nguyên tắc cơ bản của đức tin và Islam. Cha mẹ muốn con mình trở thành người Muslim và đạt được hòa bình và hạnh phúc trên thế giới này và akhirat phải thực hiện nhiệm vụ này trước tiên. Bất kỳ đứa trẻ nào không được dạy kiến ​​thức Islam và không được dạy đạo đức đẹp đẽ sẽ nhanh chóng bị những kẻ xấu lừa dối. Chúng sẽ gây hại cho cha mẹ, đất nước và dân tộc của mình. Trong cuốn sách này, chúng tôi đã truyền đạt những vấn đề về salat theo madhhab Hanafi. Chúng tôi đã trích dẫn các đoạn trích từ sách của các học giả Hanafi vĩ đại và đơn giản hóa chúng. Salat, được lệnh cho người Muslim, được chia thành ba nhóm: salat Fard, salat Wajib và nafila (salat vượt trội).

1- Salat Fard: Fard của năm salat hàng ngày, hai rak’at fard của salat thứ sáu, janaza salat. (Thực hiện salat janaza là fard al-kifaya).

2- Salat Wajib: Witr salat, Eid salat, nazr salat và salat mà bạn đã bắt đầu nhưng chưa hoàn thành. Wajib cũng phải thực hiện qada của salat witr đã bỏ qua.

3- Salat Nafila: Sunnah của năm salat hàng ngày, tarawih salat và những salat được thực hiện để đạt được phần thưởng như tahajjud, tahiyyat al-masjid,, ishraq, awwabin, istihara và salat tasbih. Chúng ta không được lệnh phải thực hiện chúng. Những người không có bất kỳ khoản nợ fard hoặc wajib qada salat nào cũng sẽ được trao phần thưởng cho các nghi lễ tôn giáo vượt trội của họ.

Năm lần salat

Vị tiên tri Muhammad ‘alaihis-salam của chúng ta đã nói, “Allahu ta’ala ra lệnh thực hiện salat năm lần mỗi ngày. Allahu ta’ala sẽ tha thứ cho người thực hiện việc thanh tẩy đúng và thực hiện năm salat này đúng thời hạn bằng cách thực hiện ruki’ và sajdas của họ tốt.” Năm salat hàng ngày này cộng lại thành bốn mươi rak’at (đơn vị), trong đó có mười bảy là fard, ba là wajib và hai mươi là sunnah. Đó là:

1- Salat buổi sáng bao gồm bốn rak’at. Đầu tiên, salat sunnah, bao gồm hai rak’at, được thực hiện. Sau đó, salat fard gồm hai rak’at được thực hiện. Sunnah (hai rak’at đầu tiên) rất quan trọng. Một số học giả phân loại nó là wajib.

2- Salat buổi chiều bao gồm mười rak’at. Sunnah ban đầu gồm bốn rak’at, fard gồm bốn rak’at, và sunnah cuối cùng gồm hai rak’at.

3- Salat cuối buổi chiều gồm tám rak’at. Đầu tiên, sunnah gồm bốn rak’at, sau đó là fard gồm bốn rak’at.

4- Salat buổi tối gồm năm rak’at. Đầu tiên, fard gồm ba rak’at, sau đó là sunnah gồm hai rak’at.

5- Salat ban đêm gồm mười ba rak’at. Sunnah ban đầu gồm bốn rak’at. Fard cũng gồm bốn rak’at. Sunnah cuối cùng có hai rak’at, trong khi witr salat có ba rak’at.

Fard của salat

Fard là một nghĩa vụ được Allahu ta’ala ra lệnh rõ ràng. Nếu không thực hiện fard của một nghi lễ, sự thờ phượng đó không thể là sahih, đúng vậy. Salat có mười hai fard. Trong số những fard này, bảy fard nằm ngoài và năm fard nằm trong salat. Những fard nằm ngoài được gọi là sharts (điều kiện tiên quyết). Những fard nằm trong được gọi là Rukns. (Một số học giả Islam đã nói rằng takbir của tahrima nằm trong salat. Theo họ, cả điều kiện và rukns của salat, mỗi điều kiện có sáu.) Thực tế là các điều kiện của salat rất nhiều cho thấy salat là một việc làm vĩ đại và quan trọng nhất trong tất cả các sự thờ phượng. Hơn nữa, khi xem xét wajib, sunnah, mustahabs, makrihs và mufsids, người ta hiểu rằng một tôi tớ phải ở trong sự hiện diện của Rabb của mình. Tôi tớ là những sinh vật yếu đuối, bất lực. Ở mỗi hơi thở, họ cần Allahu ta’ala, Đấng đã tạo ra họ. Salat là một sự thờ phượng khiến tôi tớ hiểu được điểm yếu của mình.

A) Salat Fard có điều kiện tiên quyết

Các fard của Salat ở bên ngoài, có bảy trường hợp. Đó là:

1- Taharat từ hadas

Việc thực hiện abdast (tẩy rửa, wudu) của một người chưa có thanh tẩy và việc thực hiện ghusl của một người là junub.

Thực hiện việc thanh tẩy như thế nào theo học thuyết Hanafi

Để thực hiện việc thanh tẩy theo sunnah: 1- Bạn bắt đầu thực hiện việc thanh tẩy bằng cách rửa tay ba lần, rửa cả cổ tay. 2- Dùng tay phải cho nước vào miệng ba lần. 3- Dùng tay phải đưa nước hít vào mũi ba lần và xì mũi bằng tay trái. 4- Dùng lòng bàn tay lấy nước vào và rửa mặt (ba lần) từ đỉnh trán (nơi chân tóc bắt đầu) đến cuối cằm và phía trước của hai tai. Rửa mặt một lần là điều bắt buộc. Phải định tâm khi bắt đầu rửa mặt. 5- Dùng tay trái, rửa cẳng tay phải, bao gồm cả khuỷu tay (ba lần). 6- Dùng tay phải, rửa cẳng tay trái, bao gồm cả khuỷu tay (ba lần). Rửa cẳng tay và khuỷu tay, một lần là điều bắt buộc. 7- Sau khi đã rửa cả hai cánh tay, bạn làm ướt tay thêm một lần nữa và thoa masah (vuốt tay) lên đầu; đây là điều bắt buộc. Sau đó, bạn

“ Hết thảy trẻ con sinh ra đều hoàn toàn phù hợp với Islam. Thế rồi, cha mẹ chúng biến chúng thành người theo Ki Tô giáo, Do Thái hoặc vô thần.” Hadith ash-sharif

vuốt masah vào tai và sau gáy. Để thực hiện ba thủ tục cuối cùng lúc, cả hai tay đều được làm ướt. Ba ngón tay kề nhau được chắp lại với nhau; bề mặt bên trong của chúng chạm trên phần đầu ngay phía trên trán. Các đầu của ba ngón tay này phải chụm vào nhau. Ngón cái, ngón trỏ và lòng bàn tay phải không chạm vào đầu. Hai bàn tay được kéo về phía sau, do đó áp dụng masah trên đầu bằng ba ngón tay của mỗi bàn tay. Khi tay chạm đến phần tóc ở phía sau thì các ngón tay rời khỏi đầu và lòng bàn tay của cả hai bàn tay được ấn nhẹ vào tóc ở cả hai bên đầu và kéo về phía trước, masah vào hai bên đầu. Sau đó, đặt ngón trỏ của cả hai tay vào trước tai và ngón tay cái ở phía sau tai, chúng ta masah vào tai bằng cách kéo ngón tay cái xuống dưới. Sau đó, bề mặt ngoài của mỗi ba ngón tay mỏng được đặt vào phía sau gáy và masah vào cổ từ giữa gáy ra hai bên. (Áp dụng masah vào đầu theo cách này là điều bắt buộc trong madhhab Maliki.) 8- Sau khi thực hiện masah cổ, rửa bàn chân phải từ mắt cá chân ba lần, chèn ngón út của bàn tay trái giữa các ngón chân, bắt đầu từ ngón chân út. 9- Rửa bàn chân trái từ xương mắt cá chân ba lần. Chèn ngón út của bàn tay trái vào giữa các ngón chân, bắt đầu từ ngón chân cái. Rửa hai bàn chân từ xương mắt cá chân một lần là điều bắt buộc. Trong một hadith ash-sharif, Rasilullah nói, “Bất kỳ ai thực hiện việc thanh tẩy và sau đó đọc sirah của 'Inna enzelnahu ...' một lần, Allahu ta'ala ghi nhận anh ta là một trong những siddiq. Nếu anh ta đọc nó hai lần, Ngài ghi nhận anh ta là một trong những vị tử đạo. Nếu anh ta đọc nó ba lần, anh ta sẽ được phục sinh cùng với các Nhà tiên tri.” Trong một hadith ash-sharif khác, có nói, “Bất kỳ ai thực hiện việc thanh tẩy và sau đó cầu nguyện salatu salam với tôi mười lần, Allahu ta'ala sẽ xóa bỏ nỗi buồn của người đó và làm cho anh ta vui vẻ. Anh ta chấp nhận lời cầu xin của mình.”

Những điều vô hiệu hóa một thanh tẩy

Bảy điều vô hiệu hóa thanh tẩy, đó là: 1- Chất bài tiết từ các cơ quan bài tiết trước và sau. 2- Những chất dơ chảy ra từ miệng: a) Nôn nhiều hơn một ngụm. b) Khạc nhổ mà máu nhiều hơn nước bọt. 3- Những thứ tiết ra qua da: a) Máu, mủ hoặc nước vàng. b) Dùng bông thấm máu hoặc nước vàng lên vết thương, vết loét (áp xe). 4- Ngủ: Ngủ nghiêng hoặc ngửa hoặc tựa vào khuỷu tay hoặc thứ gì đó khác. 5- Ngất xỉu, trở nên mất ý thức hoặc lên cơn động kinh. Say rượu đến mức đi bộ nghiêng ngã. 6- Tiếng cười trong một salat có ruki’ và sajda sẽ phá vỡ cả salat và thanh tẩy. Nhưng nó không phá vỡ việc thanh tẩy của trẻ em. Việc mỉm cười trong khi salat không làm mất hiệu lực của salat hoặc sự thanh tẩy. Khi những người khác có mặt nghe thấy thì nó là là tiếng cười. Khi không nghe thấy tiếng cười của chính mình thì đó là nụ cười. 7- Mubasharat al-fahisha, nghĩa là khi một người đàn ông và một người phụ nữ đụng chạm bộ phận sinh dục (saw’atayn) của họ vào nhau, nó sẽ làm mất hiệu lực thanh tẩy của cả hai. Nếu một người biết rằng mình đã thực hiện một việc thanh tẩy và nghi ngờ liệu nó đã bị phá vỡ hay chưa, thì người đó được phán đoán là có thanh tẩy. Nếu anh ta biết rằng việc thanh tẩy của mình đã bị phá vỡ và nghi ngờ liệu mình đã thanh tẩy lại hay chưa, anh ta phải thực hiện một thanh tẩy. Ghusl (nghi lễ rửa sạch cơ thể)

Một salat được chấp nhận phải có một thanh tẩy đúng và một ghusl đúng. Điều bắt buộc cho mọi phụ nữ hoặc đàn ông là junub, và cho mọi phụ nữ sau haid (kinh nguyệt) và nifas (thời kỳ hậu sản) là thực hiện một ghusl abdast khi còn thời gian để thực hiện salat, trước khi thời gian của salat đó hết hạn. Junub là do giao hợp hoặc xuất tinh khi thức hoặc ngủ. Rasilullah (sallallahu 'alaihi wa sallam) nêu trong một hadith ash-sharif, “Một người thức dậy thực hiện ghusl abdast sẽ được ban cho phần thưởng nhiều như tóc trên cơ thể của mình (có nghĩa là rất nhiều), và nhiều tội lỗi của anh ta sẽ được tha thứ. Anh ta sẽ được thăng cấp lên cấp cao hơn trong Thiên đàng. Những ân phước mà anh ta được ban cho vì ghusl của mình hữu ích hơn bất cứ thứ gì trên thế gian. Allahu ta'ala sẽ nói với các thiên thần: ‘Hãy nhìn vào tôi tớ của Ta này! Không hề tỏ ra do dự, anh ta nghĩ đến mệnh lệnh của Ta và thức dậy vào ban đêm và thực hiện nghi lễ ghusl janabat. Hãy làm chứng rằng Ta đã tha thứ tội lỗi cho tôi tớ này của Ta.’”

Điều bắt buộc của ghusl

Theo madhhab Hanafi, có ba điều bắt buộc trong ghusl:

1- Rửa bên trong miệng. Nếu bất kỳ nơi nào lớn bằng đầu kim trong miệng không bị ướt hoặc răng, các hốc răng không bị ướt thì Ghusl đó sẽ không được chấp nhận.

2- Rửa bên trong mũi. Nếu không làm sạch chất nhầy khô nào trong lỗ mũi hoặc các mẫu bánh mì nào trong miệng thì Ghusl đó sẽ không được chấp nhận. Theo madhhab Hanbali, rửa toàn bộ miệng và mũi là điều bắt buộc trong việc thanh tẩy và ghusl. Trong madhhab Shafi'i, Maliki và Hanbali, ý định thực hiện ghusl là điều bắt buộc.

3- Rửa mọi bộ phận của cơ thể. Người ta thường rửa bên trong rốn, ria mép, lông mày và râu cũng như da bên dưới chúng, tóc trên đầu. Nếu có bất kỳ thứ gì không thấm nước trên móng tay, môi, mí mắt hoặc trên bất kỳ bộ phận nào của cơ thể (như sơn móng tay), thì không được phép ghusl.

Cách thực hiện ghusl

Để thực hiện ghusl theo sunnah của học thuyết Hanafi:

1- Trước tiên, phải rửa cả hai tay và bộ phận sinh dục, ngay cả khi chúng có thể sạch. Sau đó, phải rửa sạch najasat (bụi bẩn) trên cơ thể.

“Một người đứng dậy để thực hiện ghusl abdast sẽ được ban thưởng nhiều thawab bằng với số lượng lông trên cơ thể mình (tức là rất nhiều), và từng đó tội lỗi của người đó sẽ được tha thứ. Người ấy sẽ được nâng lên một địa vị cao hơn trong Jannah.” Hadith ash-sharif

2- Sau đó, chúng ta phải thực hiện việc thanh tẩy. Trong khi rửa mặt, chúng ta phải có ý định thực hiện ghusl. Chúng ta phải rửa chân dù nước không tích tụ dưới chân.

3- Sau đó, chúng ta phải đổ nước ba lần lên khắp cơ thể. Để làm điều đó, chúng ta phải đổ nước lên đầu trước, sau đó đổ lên vai phải và sau đó là vai trái, mỗi chỗ ba lần. Chỗ mà chúng ta đổ nước phải ướt hoàn toàn. Trong lần đổ đầu tiên chúng ta cũng phải chà xát nhẹ nhàng. Trong ghusl, được phép đổ nước từ chi này sang chi khác, như vậy, chi kia cũng sẽ được làm sạch. Vì trong ghusl, toàn bộ cơ thể được coi là một chi. Nếu khi thực hiện việc thanh tẩy, nước đổ vào một chi làm ướt chi khác, thì không được coi là đã được rửa sạch. Khi ghusl hoàn tất, thì makrih được thực hiện thanh tẩy một lần nữa. Nhưng sẽ cần phải thực hiện việc thanh tẩy một lần nữa nếu nó bị hỏng trong khi làm ghusl.

Giải thích quan trọng về răng bọc sứ hoặc răng trám

Trong madhhab Hanafi, ghusl sẽ không được hoàn chỉnh nếu giữa các răng và bên trong các hốc răng không bị ướt. Do đó ghusl sẽ không được sahih (chấp nhận được) nếu răng được bọc hoặc trám. Người ta sẽ không thoát khỏi trạng thái janabat. Nói cách khác, theo các học giả của madhhab Hanafi khi nước không đi qua mão răng và miếng trám làm bằng vàng, bạc hoặc bất kỳ chất nào khác không phải là najs, thì ghusl việc thanh tẩy sẽ không được chấp nhận. Một người nếu không thể thực hiện điều bắt buộc trong madhhab của mình phải bắt chước một madhhab khác để làm điều đó. Nhưng để làm được thế, anh ta cũng phải đáp ứng các điều kiện của madhhab đó. Không phải điều bắt buộc để rửa bên trong miệng cho ghusl trong madhhab Maliki và Shafi'i. Đối với một người trong madhhab Hanafi để bắt chước madhhab Maliki hoặc Shafi'i, chỉ cần nhớ rằng anh ta đang theo Imam al Maliki (hoặc Shafi'i) khi thực hiện ghusl, thanh tẩy và khi có ý định thực hiện salat. Nói cách khác, ghusl của một người như vậy sẽ được chấp nhận nếu, ngay từ đầu, anh ta truyền suy nghĩ này qua trái tim mình, “Tôi có ý định thực hiện ghusl và tuân theo madhhab Maliki (hoặc Shafi'i).” Khi một người trong madhhab Hanafi có răng bọc hoặc trám có ý định theo cách này, ghusl của anh ta sẽ là sahih. Anh ta sẽ thoát khỏi trạng thái junub và trở nên trong sạch. Khi anh ta bắt chước madhhab Maliki hoặc Shafi'i, abdast và salat của anh ta sẽ trở thành sahih. Anh ta có thể là imam thực hiện nghi lễ salat cho một jama’at (giáo đoàn) không có răng sứ hoặc trám răng.

Những Điều bắt buộc của ghusl trong ba madhhab khác
Trong madhhab Maliki:

1- Niyyat (ý định)

2- Dalk (xoa bóp chân tay khi rửa)

3- Muvalat (rửa chân tay liên tục không dừng lại)

4- Chải tóc và râu

5- Tắm rửa toàn thân

Trong madhhab Shafi’i:

1- Niyyat

2- Tắm rửa toàn thân. (Theo những Fard ghusl trong Shafi’i là ba cách để rửa sạch bụi trên cơ thể. Vì bụi bẩn được làm sạch khi cơ thể sạch, nên không có gì phải phản đối khi nói những điều bắt buộc của ghusl là hai.)

Trong madhhab Hanbali:

Điều bắt buộc của ghusl là một, và đó là tắm. Đó là rukn ghusl, điều bắt buộc bên trong ghusl. Cũng là điều bắt buộc để thực hiện niyyat và nói Basmala. Vì bên trong miệng và mũi được coi là bên ngoài cơ thể, nên việc rửa sạch những bộ phận này là điều rất quan trọng.

1- Làm niyyat

2- Đọc kinh Basmala

3- Rửa bên trong miệng

4- Rửa bên trong mũi

5- Rửa toàn bộ cơ thể

Các điều bắt buộc của việc thanh tẩy trong ba madhhab khác
Trong Maliki:

1- Niyyat

2- Rửa mặt

3- Rửa cả hai cẳng tay

4- Làm masah toàn bộ đầu (Da và tóc theo đường thẳng với dái tai được bao gồm trong đầu.)

5- Rửa cả hai chân

6- Muvalat

7- Dalk

Trong madhhab Shafi’i:

1- Niyyat

2- Rửa mặt

3- Rửa cả hai cẳng tay

4- Làm masah một phần nhỏ của đầu

5- Rửa cả hai chân

6- Tartib (rửa các chi theo thứ tự quy định)

Trong madhhab Hanbali:

1- Làm niyyat

2- Đọc Basmala

3- Rửa bên trong miệng

4- Rửa bên trong mũi

5- Rửa mặt

6- Rửa cả hai cẳng tay

7- Làm masah toàn bộ đầu (tai được bao gồm trong đầu)

8- Rửa cả hai chân

“Sự chấp nhận của những lời cầu nguyện và istighfar (lời xin tha thứ) phụ thuộc vào việc thực hiện năm thời salat hàng ngày, tránh những hành động haram và có sự tẩy rửa (ablution) khi đang cầu nguyện và nói istighfar. Việc nói istighfar và cầu nguyện khi có sự tẩy rửa là mustahabb (được khuyến khích).” Se’adat-i ebediyye - Endless Bliss

9- Tartib

10- Muvalat

Tayammum

Tayammum có nghĩa là làm sạch bằng đất. Khi bạn không tìm thấy nước hoặc không thể sử dụng nước có sẵn, bạn phải thực hiện tayammum bằng một thứ gì đó như đất sạch, cát, vôi hoặc đá (chúng phải sạch và có nguồn gốc từ đất) để thay thế cho wudu (rửa tẩy) hoặc ghusl (tắm toàn thân).

Tayammum trước khi thời gian của một buổi salat bắt đầu là sahih (hợp lệ) theo madhhab Hanafi, có nghĩa là bạn có thể thực hiện salat khi thời gian của nó bắt đầu với tayammum đã làm từ trước. Theo ba madhhab còn lại, tayammum trước thời gian salat là không sahih (không hợp lệ), tức là bạn không thể thực hiện một trong năm salat hàng ngày bằng tayammum được thực hiện trước khi thời gian được quy định của salat đó bắt đầu.

Các điều kiện bắt buộc (fard) của tayammum

Tayammum có ba điều kiện bắt buộc:

1- Có niyyat (ý định).

2- Chà hai lòng bàn tay lên đất sạch, sau đó masah (lau) toàn bộ khuôn mặt.

3- Sau khi chà cả hai tay lên đất sạch, thực hiện masah trên cánh tay phải trước, rồi đến tay trái. Một số học giả cho rằng tayammum chỉ có hai fard, họ gộp điều thứ hai và thứ ba lại làm một. Cả hai quan điểm đều đúng. Tayammum thay cho wudu và ghusl được thực hiện giống nhau.

Cách thực hiện tayammum

1- Trước hết, bạn cần có niyyat để tẩy sạch bản than khỏi tình trạng janabat (tình trạng sau khi quan hệ hoặc xuất tinh) hoặc khỏi tình trạng chưa có wudu. Chỉ có ý định thực hiện tayammum thì chưa đủ để thực hiện salat. Cần phải có ý định thực hiện một hành động 'ibadat (hành vi thờ phượng), ví dụ như: thực hiện tayammum để làm salat janaza (salat tang lễ), làm sajda tilawat (lạy khi nghe Qur'an), hoặc để thay thế cho wudu hoặc ghusl. Khi có niyyat tayammum, không cần phan biệt giữa wudu và ghusl. Nếu ai đó có niyyat cho wudu, thì người đó cũng được coi là đã tẩy sạch khỏi janabat. Một tayammum là đủ để thực hiện salat, không cần tayammum thứ hai. 2- Xắn tay áo lên trên khuỷu tay, mở rộng các ngón tay, chà lòng bàn tay lên đất sạch, đá hoặc tường trát đất hoặc vôi. Sau đó, thực hiện masah lên khuôn mặt bằng hai bàn tay, ít nhất ba ngón tay của mỗi bàn phải chạm vào mặt. Nếu có chỗ nhỏ bằng đầu kim không được chạm vào thì tayammum không sahih.

Để thực hiện masah hoàn chỉnh khuôn mặt: đưa bốn ngón tay khép lại, đầu ngón giữa của hai tay chạm nhau, đặt lên trán tại đường chan tóc và vuốt nhẹ xuống cằm. Cần chà lên trán, mí mắt, hai bên mũi, môi, cằm, và má. 3- Đặt hai tay lên đất lần thứ hai và vỗ nhẹ để rũ bỏ bụi đất thừa, sau đó: Dùng các ngón tay trong của tay trái chà mặt ngoài tay phải từ ngón tay đến khuỷu. Dùng lòng bàn tay trái chà mặt trong tay phải từ khuỷu đến đầu ngón. Đồng thời dùng bên trong ngón cái trái chà bên ngoài ngón cái phải. Sau đó làm tương tự cho tay trái bằng tay phải. Bạn nên tháo nhẫn nếu đang đeo. Tay phải và trái phải được chà lên đất sạch, nhưng không cần để bụi hoặc đất dính lại tay.

Những điều làm mất hiệu lực của tayammum

Tayammum mất hiệu lực khi ‘Udhr (lý do cho phép tayammum) chấm dứt, ví dụ như khi tìm thấy nước. Xảy ra các sự kiện làm mất wudu hoặc ghusl.

Kinh nguyệt (Haid) và thời kỳ hậu sản (Nifas) của phụ nữ

Haid là máu chảy ra từ cơ quan sinh dục của một bé gái khỏe mạnh sau khi đã đủ tám tuổi và bước vào tuổi thứ chín, hoặc một người phụ nữ sau ít nhất 15 ngày tinh sạch kể từ kỳ kinh trước. Máu này kéo dài ít nhất ba ngày (72 giờ). Bất kỳ chất lỏng có màu nào (trừ màu trắng) được xem là máu haid. Khi một cô gái bắt đầu có haid, cô ấy đã trưởng thành (baliqh) và có trách nhiệm thực hiện các mệnh lệnh tôn giáo. Thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc kinh nguyệt được gọi là 'adat (chu kỳ kinh nguyệt), kéo dài tối thiểu 3 ngày, tối đa 10 ngày. Mỗi phụ nữ cần nhớ rõ thời gian và giờ hành kinh của mình. Khi một cô gái trên 8 tuổi, là fard (bắt buộc) đối với mẹ, hoặc nếu không có mẹ thì là bà, chị gái, cô, dì,... phải dạy cho cô bé về haid và nifas. Nifas là máu chảy ra từ cơ quan sinh dục của người phụ nữ sau khi sinh con. Không có thời gian tối thiểu cho nifas, nhưng tối đa là 40 ngày. Khi máu ngừng chảy, người phụ nữ phải thực hiện ghusl ngay lập tức. Sau 40 ngày, nếu máu vẫn còn, đó là istihada (máu bệnh, không phải kinh nguyệt). Phụ nữ cũng cần ghi nhớ thời gian nifas của mình. Máu kéo dài ít hơn 3 ngày (dưới 72 giờ), hoặc máu ra sau ngày thứ 10 với người mới dậy thì, hoặc máu ra quá số ngày adat với người đã có kinh nguyệt ổn định, hoặc máu chảy ở phụ nữ mang thai hay người trên 55 tuổi (gọi là ‘aisa) hoặc của một bé gái dưới chín tuổi, không phải là kinh nguyệt. Nó được

“Người phụ nữ nào giấu chồng mình thời gian bắt đầu và kết thúc haid của mình thì bị nguyền rủa.” Hadith ash-sharif

gọi là istihada (máu 'udhr). Chảy máu istihada (rong kinh) là dấu hiệu của một căn bệnh. Nếu nó tiếp tục trong một thời gian dài, nó có thể nguy hiểm, vì vậy người có liên quan phải đi khám bác sĩ phụ khoa. Một phụ nữ đang trải qua những ngày istihada được phân loại là một người có lý do ('udhr), giống như một người thường xuyên chảy máu mũi; do đó, cô ấy phải thực hiện salat và ăn chay. Salat, ăn chay, tilawat và shukr sajdas, cầm Qur'an al karim, vào thánh đường Islam, làm tawaf quanh Ka'ba và quan hệ tình dục đều là haram (bị cấm) trong trạng thái haid hoặc nifas. Sau đó, cô ấy thực hiện qada' của những lần ăn chay đó, nhưng không phải là salat mà cô ấy đã không thực hiện. Một người nghe một ayat của sajda trong khi anh ta là junub hoặc không có việc thanh tẩy sẽ làm tilawat sajda sau khi anh ta được làm sạch. Nhưng nếu một người phụ nữ nghe thấy nó trong trạng thái haid hoặc nifas, cô ấy không cần phải làm tilawat sajda sau khi làm sạch. Một người phụ nữ phải cho chồng mình biết khi nào haid của cô ấy bắt đầu. Nhà tiên tri của chúng ta (sall Allahu 'alaihi wa sallam) đã nói, “Một người phụ nữ che giấu sự bắt đầu và kết thúc của haid của mình với chồng mình là bị nguyền rủa.” Khi haid hoặc nifas kết thúc, thì điều bắt buộc phải làm ghusl ngay lập tức. Đó là điều bắt buộc, một lệnh truyền của Allahu ta'ala.

Haid và nifas trong học thuyết Maliki

Trong madhhab Maliki, máu đỏ, vàng hoặc đục chảy ra mà không có lý do từ phía trước của một bé gái chín tuổi được gọi là máu haid. Đó là haid (kinh nguyệt) ngay khi máu bắt đầu chảy. Nếu nó kéo dài dưới 15 ngày, thì được gọi là adat (chu kỳ kinh nguyệt). Nếu kéo dài hơn 15 ngày, thì đó là istihada (máu bệnh). Nếu adat của cô ấy thay đổi vào tháng tiếp theo, thì số ngày adat dài nhất cộng thêm 3 ngày sẽ được tính là haid. Dài hơn khoảng thời gian đó và vượt quá 15 ngày thì được xem là istihada. Nếu kursuf (một ít bông hoặc vải mà phụ nữ đặt phía trước) khô hoặc có dịch màu trắng thì được hiểu là haid đã kết thúc. Chảy máu sau tuổi 70 không được coi là haid mà là istihada. Trong trường hợp phụ nữ bị chảy máu gián đoạn, những ngày không có chảy máu được coi là ngày thanh sạch (ngày thanh lọc). Số ngày thanh sạch liên tục tối thiểu là 15 ngày. Nếu máu tái phát trước khi đủ 15 ngày, thì đó là istihada. Những ngày thanh sạch như vậy là vô hạn (không có giới hạn tối đa). Nếu máu dừng lại và tái phát sau 15 ngày, thì đó là haid. Chảy máu xảy ra trước khi sinh con được coi là haid. Nếu em bé được lấy ra khỏi tử cung của người phụ nữ thông qua một vết mổ ở bụng, thì máu chảy ngay sau đó không được coi là nifas (dịch tiết sau sinh). Nifas (thời kỳ hậu sản) kéo dài tối đa 60 ngày. Nếu máu hậu sản ngừng lại và không tái phát trong vòng 15 ngày tiếp theo (thời kỳ nifas đã kết thúc), thì người phụ nữ đang trải qua nifas được xem là tahir (sạch sẽ, thanh lọc). Máu chảy sau đó là haid.

Haid và nifas trong Shafi’i

Haid ngắn nhất là 1 ngày, và dài nhất là 15 ngày. Nếu kéo dài hơn 15 ngày, thì đó là istihada. Số ngày tinh khiết liên tục là tối thiểu 15. Nếu chảy máu bắt đầu trước 15 ngày, thì đó không phải là haid, mà là istihada. Chảy máu từ một bé gái dưới 9 tuổi hoặc một aisa (sau 60 tuổi) không phải là haid; đó là ‘udhr. Nifas là tối đa 60 ngày. Không có mức tối thiểu cho nifas. Chảy máu của một phụ nữ mang thai là haid. Nếu những ngày sạch giữa các lần chảy máu nifas ít hơn 15 ngày, thì nó được coi là nifas. Nếu chảy máu nifas dừng lại và không tái phát trong vòng 15 ngày tiếp theo, thì thời kỳ nifas đã kết thúc. Không cần phải đợi 60 ngày. Nếu chảy máu xảy ra 15 ngày trở lên sau khi tinh khiết, thì đó là máu haid, không phải nifas.

Haid và nifas trong Hanbali

Haid ngắn nhất là 1 ngày và dài nhất là 15 ngày. Nếu kéo dài hơn 15 ngày, thì đó là istihada (‘udhr). Để haid thứ hai bắt đầu, ít nhất phải qua 13 ngày. Nếu chảy máu bắt đầu trước 13 ngày, thì đó không phải là haid; đó là istihada. Chảy máu từ một bé gái dưới 9 tuổi hoặc một aisa (sau 50 tuổi) không phải là haid; đó là ‘udhr. Chảy máu của một phụ nữ mang thai không phải là haid; đó là istihada. Nifas tối đa là 40 ngày, giống như Hanafi. Không có mức tối thiểu cho nifas. Trong khi cô ấy có nifas, vào những ngày không có máu, cô ấy sạch sẽ, và cô ấy làm ghusl và thực hiện sự thờ phượng của mình. Vào những ngày có máu, cô ấy sẽ bỏ salat và nhịn ăn. Điều này sẽ tiếp tục như vậy cho đến khi hoàn thành 40 ngày.

2- Thanh tẩy najasat

Người thực hiện salat (lễ nguyện) không được có najasat (các chất mà Hồi giáo quy định là ô uế) hoặc sự ô uế trên cơ thể, quần áo, hoặc nơi mà họ thực hiện salat. Mũ đội đầu, mũ vải, khăn xếp, mests (loại giày nhẹ) và nalins (giày dép) cũng được xem là một phần của quần áo. Vì phần khăn quàng quanh cổ treo lủng lẳng và di chuyển theo chuyển động của cơ thể, nên khi thực hiện salat, nó được tính là quần áo. Nếu phần vải đó bị ô uế, thì salat sẽ không được chấp nhận. Tuy nhiên, nếu những phần vải tiếp xúc với mặt đất nơi người đó đứng và nơi đặt trán khi sajda (lạy xuống) đều sạch, thì salat vẫn được chấp nhận ngay cả khi những phần khác của vải có najasat. Bởi vì tấm vải, không giống như khăn quàng cổ, không gắn liền với cơ thể. Salat của người mang theo nước tiểu trong một chai kín sẽ không được chấp nhận, vì chai đó không phải là nơi chất thải được tạo ra. (Do đó, không được phép thực hiện salat khi đang mang theo một chai máu kín, một lọ thuốc sát trùng iodine, hoặc một hộp kín chứa khăn tay dính máu hay một mảnh vải có najasat với kích thước bằng hoặc lớn hơn một đồng dirham.) Những vị trí đặt hai bàn chan và nơi thực hiện sajda phải sạch sẽ. Salat được thực hiện trên một tấm vải, vật dụng bằng thủy tinh hoặc nilon trải trên chỗ có najasat vẫn được chấp nhận. Việc phần vạt áo chạm vào najasat khô khi thực hiện sajda không gay ảnh hưởng đến tính hợp lệ của salat.

Istinja, istibra và istinqa

Việc vệ sinh trước hoặc sau khi đi tiểu được gọi là istinja. Istibra có nghĩa là, sau khi đi tiểu, đợi bằng cách đi lại hoặc làm việc gì khác cho đến khi bàng quang không còn ướt nữa (trước khi rửa). Istinqa có nghĩa là trái tim trở nên chắc chắn về sự sạch sẽ về mặt thể chất và không

Giá trị nhất của sự thờ phượng là một lễ nguyện được sớm thực hiện.” Hadith ash-sharif

còn giọt nước tiểu nào sót lại trong niệu đạo. Phụ nữ không làm istibra. Đàn ông làm istibra là wajib, nghĩa là không để lại bất kỳ giọt nào trong niệu đạo, khi đi bộ, ho hoặc nằm nghiêng về bên trái. Người ta không được thực hiện việc thanh tẩy trừ khi người ta hài lòng rằng không còn giọt nước tiểu nào nữa. Một giọt rỉ ra sẽ vừa vô hiệu hóa việc thanh tẩy vừa làm bẩn quần lót của người ta. Nếu ít hơn một lòng bàn tay rỉ ra trên quần, salat mà người đó thực hiện sẽ là makrih. Nếu rỉ ra nhiều hơn, salat sẽ không được sahih, không được chấp nhận. Những người gặp khó khăn với istibra phải đặt một bấc bông xenlulo lớn bằng hạt lúa mạch vào lỗ tiểu. Bông sẽ thấm nước tiểu rỉ ra. Nhưng đầu bông không được thò ra ngoài.

3- Satr al-awrat (Che đậy các bộ phận awrat)

Những phần cơ thể của một người mà bị haram để hở, để người khác nhìn thấy, và bị người khác nhìn vào cũng bị haram, được gọi là awrat. Awrat của nam giới là phần từ rốn đến dưới đầu gối. Đầu gối cũng được tính là awrat. Việc thực hiện salat trong khi những phần này bị hở thì không sahih (tức là không hợp lệ, bị vô hiệu hóa). Khi thực hiện salat, sunnah đối với nam giới là che phủ những phần khác (cánh tay, đầu) và mang tất. Việc để hở những phần này khi salat là makruh. Tất cả các phần cơ thể của phụ nữ, ngoại trừ lòng bàn tay và khuôn mặt, bao gồm cả mu bàn tay, tóc và bàn chân, đều là awrat trong cả bốn trường phái madhhab. Vì lý do này, phụ nữ còn được gọi là Awrat. Việc che đậy những phần này là fard (bắt buộc) đối với họ. Nếu một phần tư của bất kỳ vùng awrat nào của nam hoặc nữ bị hở ra trong thời gian kéo dài bằng một rukn (một động tác chính trong salat), thì salat đó trở nên không hợp lệ. Nếu phần bị hở nhỏ hơn, salat không bị vô hiệu, nhưng bị xem là makruh. Vải quá mỏng đến mức có thể thấy hình dáng hoặc màu sắc bên dưới thì được xem như là không che đậy gì cả. Khi ở một mình và không thực hiện salat, phụ nữ bắt buộc phải che phần giữa đầu gối và rốn, wajib để che lưng và bụng, và adab để che các phần cơ thể còn lại.

4- Istiqbal al-qibla (hướng về qibla)

Istiqbal al-qibla có nghĩa là thực hiện salat hướng về Ka'ba. Hướng về phía tòa nhà Ka'ba, ở Mecca al-muqarrama, được gọi là qibla. Trước đây, qibla là Jerusalem. Mười bảy tháng sau Hegira, vào thứ Ba, giữa tháng Sha'ban, người Muslim được lệnh quay về phía Ka'ba. Qibla không phải là tòa nhà của Ka'ba; đó là lô đất xây dựng của nó. Nghĩa là, không gian từ Trái đất đến Arsh là qibla. Vì lý do này, một người ở dưới giếng, dưới biển, trên đỉnh núi cao hoặc trên máy bay có thể thực hiện salat theo hướng đó. Salat sẽ là sahih nếu lỗ mở giữa các hướng chéo của dây thần kinh thị giác bao gồm Ka'ba. 5- Thời gian Rasil al-akram (sallallahu ‘alaihi wa sallam) đã nói trong một hadith ash-sharif, “Trong hai ngày, bên cạnh cửa Ka’ba, Jabrail (’alaihis-salam) đã thực hiện salat như một imam cho hai chúng tôi. Hai chúng tôi thực hiện salat buổi sáng khi fajr (tờ mờ sáng) rạng đông; salat dhuhr (đầu giờ chiều) khi mặt trời bắt đầu lặn từ thiên đỉnh; salat asr (cuối giờ chiều) khi bóng của một vật bằng chiều dài của nó; salat maghrib (buổi tối) khi mặt trời lặn (vành trên của nó biến mất); và salat isha’a (ban đêm) khi hoàng hôn tối dần. Ngày thứ hai, chúng tôi thực hiện salat buổi sáng khi rạng đông chín muồi; salat dhuhr khi bóng của một vật dài gấp đôi chiều dài của vật đó; salat asr ngay sau đó; salat maghrib vào thời điểm đã định để phá vỡ sự kiêng ăn; và isha’a salat vào cuối một phần ba đầu tiên của đêm. Sau đó, ngài nói, ‘Hỡi Muhammad, đây là thời gian salat cho Ngài và các nhà tiên tri trước Ngài. Cộng đồng của Ngài nên thực hiện mỗi salat trong năm salat này giữa hai thời điểm mà chúng ta thực hiện mỗi salat.’”

Hadith ash-sharif này nêu rõ rằng số lần cầu nguyện salat hàng ngày là năm lần.

Thời gian cho buổi salat buổi sáng: Bắt đầu khi thấy màu trắng gọi là fajr ở phía đông. Kết thúc khi mặt trời mọc.

Thời gian cho buổi salat đầu giờ chiều: Bắt đầu khi bóng của các vật thể, sau khi đã ngắn lại, bắt đầu kéo dài trở lại. Kết thúc khi bóng của một vật thể cao gấp đôi chiều cao của vật thể ban đầu.

Thời gian cho buổi salat cuối giờ chiều: Thời gian này bắt đầu khi kết thúc thời gian của salat buổi trưa và kéo dài cho đến khi mặt trời lặn. Việc trì hoãn bất kỳ lễ nguyện nào cho đến khi mặt trời chuyển sang màu vàng là haram, điều này xảy ra khi khoảng cách giữa mép dưới của mặt trời và đường chân trời chỉ còn bằng chiều dài của một cây giáo (tức là còn khoảng 40 phút nữa là đến salât buổi tối). Việc trì hoãn salât buổi chiều (salât 'asr) đến thời điểm đó là harâm (bị cấm). Tuy nhiên, nếu bạn chưa thực hiện salât 'asr cho đến thời điểm đó, thì bạn vẫn phải thực hiện nó trước khi mặt trời lặn.

Thời gian của salat buổi tối: Bắt đầu khi mặt trời biến mất và tiếp tục cho đến khi màu đỏ trên đường chân trời rõ ràng ở phía tây biến mất.

Thời gian của salat ban đêm: Bắt đầu khi thời gian của salat buổi tối kết thúc. Kết thúc bằng màu trắng của fajr as-sadiq (bình minh thực sự). Việc cố ý rời khỏi salat ban đêm sau nửa đêm shar’i là makrih. Thực hiện salat trước hoặc sau thời gian quy định (không thực hiện trong thời gian quy định) là haram. Đó là một tội lỗi nghiêm trọng. Trong các bảng thời gian do (Turkiye Newspaper) lập, thời gian salat và imsak đã được tuyên bố chính xác.

5- Những thời gian Karahat

Có ba thời điểm mà việc thực hiện salat là tahrimi makruh, tức là haram (bị cấm). Một lễ nguyện fard sẽ không sahih (hợp lệ) nếu bắt đầu vào một trong ba thời điểm này. Ba thời điểm đó là lúc mặt trời mọc, lúc mặt trời lặn, và lúc giữa trưa. Vào bất kỳ thời điểm nào trong ba thời gian này, việc thực hiện salat janaza đã được chuẩn bị trước thời điểm makruh, hoặc sajda at-tilawat hoặc sajda as-sahw cũng không được phép. Lễ nguyện duy nhất mà một người Muslim được phép thực hiện vào thời điểm mặt trời lặn là salat buổi chiều (‘asr) trong ngày, nếu vì lý do nào đó họ chưa thực hiện cho đến thời điểm đó.

“Có một hình phạt nghiêm khắc đối với những người thực hiện salat một cách thờ ơ hoặc thiếu tôn trọng, những người cầu nguyện với những suy nghĩ xấu xa và thể hiện ra vẻ đạo mạo khi ở cùng mọi người, nhưng lại bỏ bê salat khi họ ở một mình.” Ma’in: 4-6

Adhan và iqamat

Adhan có nghĩa là thông báo công khai. Theo sunnah al-muakkada, nam giới phải đọc adhan cho năm salat hàng ngày, thực hiện các salat bị bỏ sót (qada) là điều bắt buộc và hướng về khatib tại salat Thứ sáu. Phụ nữ mà đọc adhan hoặc iqamat là makrih. Adhan được thực hiện ở nơi cao để thông báo thời gian cho người khác. Khi đọc adhan, phải giơ tay lên và nhét một ngón tay vào mỗi lỗ tai. Đọc iqamat có giá trị hơn (đọc) adhan. Adhan và iqamat phải được đọc hướng về qibla. Người ta không được nói chuyện khi đọc chúng, cũng không được đáp lại bất kỳ lời nói hoặc lời chào nào.

Đọc adhan:

Allahu akbar (4 lần)

Ash-hadu an la ilaha illallah (2 lần)

Ash-hadu anna Muhammadan Rasilullah (2 lần)

Hayya ’alas-salah (2 lần)

Hayya ’alal-falah (2 lần)

Allahu akbar (2 lần)

La ilaha illallah (1 lần)

Chỉ trong adhan của lễ salat buổi sáng, sau Hayya ‘alal-falah, bạn nói (Assalatu hayrun minan-nawm) hai lần.

Về iqamat, bạn nói (Qad qama tis-salatu) hai lần sau Hayya ’alal-falah.

6- Niyyat

Niyyat (ý định) được thực hiện trong khi đọc takbir của iftitah (bắt đầu). Để thực hiện niyyat cho salat có nghĩa là đi qua trái tim tên của nó, thời gian, qibla, để theo imam (khi thực hiện salat trong jama'at). Niyyat được thực hiện sau takbir của iftitah thì không sahih, và salat được thực hiện theo đó là không được chấp nhận. Trong khi Niyyat cho salat fard hoặc wajib, bạn phải biết salat fard hoặc wajib nào mà bạn sẽ thực hiện. Không cần thiết phải thực hiện niyyat cho số lượng rak'at. Khi thực hiện một sunnah, niyyat “Để thực hiện salat” là đủ. Niyyat cho việc thực hiện salat janaza là “Tôi đọc niyyat để thực hiện salat vì Allah, salawat cho Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta để cầu nguyện cho người đã khuất, theo imam này.” Imam không cần phải làm niyyat để trở thành imam cho đàn ông. Nhưng nếu anh ta không làm niyyat để trở thành imam của jama’at đó, anh ta sẽ không đạt được phần thưởng của salat trong jama’at. Nếu anh ta làm niyyat để trở thành imam, anh ta cũng sẽ đạt được phần thưởng này. Imam phải đọc niyyat “Để trở thành imam cho phụ nữ” (khi anh ta phải lãnh đạo phụ nữ). Trong khi thực hiện sự thờ phượng, việc chỉ làm niyyat bằng lời nói không phải là niyyat. Nếu nó không được thực hiện thông qua trái tim, sự thờ phượng sẽ không được chấp nhận.

7- Takbir câu tahrima

Tahrima có nghĩa là đọc câu “Allahu akbar” khi bắt đầu lễ nguyện. Nam giới giơ hai tay lên ngang tai, lòng bàn tay hướng về phía qibla. Đầu ngón cái chạm vào dái tai. Trong khi đọc Allahu akbar, tay được hạ xuống, và sau khi đọc xong, hai tay đặt lên bụng dưới, tay phải nắm cổ tay trái. Phụ nữ giơ hai tay lên ngang vai và đọc takbir al-iftitah. Sau đó, họ đặt hai tay lên ngực, tay phải đặt lên tay trái, nhưng không nắm cổ tay như nam giới.

B) Rukn của các Salat fard được gọi là Rukn. Có năm trong số chúng:

1- Qiyam

Phần đầu tiên trong năm rukn của salat là qiyam. Qiyam có nghĩa là đứng. Người nào quá ốm không thể đứng thì thực hiện salat trong tư thế ngồi. Nếu không thể ngồi, thì người đó nằm ngửa và thực hiện salat bằng cách sử dụng chuyển động của đầu (như gật đầu, cúi đầu, v.v.). Một cái gối cần được đặt dưới đầu để khuôn mặt hướng về phía qibla (hướng Kaaba) thay vì hướng lên trời. Nếu nằm, người đó nên co đầu gối lại, không duỗi thẳng chân về phía qibla. Khi đứng, hai bàn chân nên cách nhau bằng chiều rộng của bốn ngón tay.

2- Qiraat

Đọc một ayat của Qur'an al-karim là Điều bắt buộc khi đứng ở mỗi rak'at của sunnah và witr, và ở hai rak'at của điều bắt buộc khi thực hiện salat riêng lẻ. Đọc một sirah ngắn sẽ mang lại nhiều phần thưởng hơn. Như qiraat, đọc Sirah al-Fatiha và một sirah bổ sung hoặc ba ayat ngắn ở hai rak'at đầu tiên của fard salat với bốn rak'at là wajib; đọc Fatiha ở hai rak'ats cuối cùng là sunnah. Đọc Fatiha và zamm (bổ sung) as-sirah ở mỗi rak'at của witr và salat sunnah là wajib. Ngoài ra, đọc Fatiha một lần và trước zamm as-sirah là wajib. Nếu quên một trong năm wajib này, cần phải thực hiện sajda as-sahw. Khi thực hiện qiraat, không được phép đọc bản dịch của Qur'an al-karim. Phải đọc như bản gốc bằng tiếng Ả Rập.

3- Ruki’

Sau qiraat trong qiyam (đọc khi đứng), bạn cúi xuống ruki’ nói takbir. Trong ruki’, đàn ông mở ngón tay và nắm lấy đầu gối. Họ giữ lưng và đầu thẳng ngang nhau. Trong ruki’, bạn nói, “Subhana Rabbiyal-’azim” ít nhất ba lần (nói 3, 5, 7, 9 hoặc 11 lần là mustahab). Trong ruki’, tay và chân của bạn phải thẳng. Phụ nữ không mở ngón tay. Họ không giữ đầu và lưng ngang bằng hoặc tay thẳng. Đối với imam, cũng như đối với một người đang thực hiện salat một mình, hãy nói, “Sami’Allahu liman hamideh” trong khi thẳng người lên khỏi ruki’. Jama’at không nói như vậy. Ngay sau khi nói, bạn phải nói, “Rabbana lakal hamd” và đứng thẳng tại qawma, và sau đó, nói, “Allahu akbar” trong khi quỳ xuống để sajda, đầu tiên đặt đầu gối phải và sau đó là đầu gối trái, tiếp theo là tay phải rồi tay trái, trên sàn. Cuối cùng, mũi và xương trán được đặt trên sàn.

4- Sajda

Khi thực hiện sajda, bạn nói "Subhana Rabbiyal-a'la" ít nhất ba lần (nói 3, 5, 7, 9 hoặc 11 lần là mustahab). Các ngón tay phải khép lại, hướng về qibla, song song với tai, và đầu phải ở giữa hai tay. Việc trán chạm vào một vật sạch, như đá, đất, gỗ, vải, là fard, và theo các học giả, việc đặt mũi xuống đất cũng là wajib. Không được phép chỉ đặt mũi xuống đất mà không có lý do chính đáng. Việc chỉ đặt trán xuống đất là makruh. Việc đặt ít nhất một ngón chân hoặc cả hai bàn chân xuống đất là fard hoặc wajib. Nếu không đặt chân xuống đất, salat sẽ không hợp lệ hoặc trở thành makruh. Trong khi thực hiện sajda, việc cong ngón chân và hướng chúng về phía qibla là sunnah. Nam giới phải giữ khoảng cách giữa cánh tay và đùi với bụng. Việc đặt tay và đầu gối xuống đất là sunnah. Khi đứng (qiyam), giữ khoảng cách bốn ngón tay giữa hai gót chân là sunnah, nhưng trong tư thế ruku’, qawma và sajda, giữ hai gót chân gần nhau là sunnah. Khi quỳ xuống để thực hiện sajda, việc kéo lên quần là makruh, và việc gấp quần trước khi bắt đầu salat cũng là makruh. Việc thực hiện salat với tay áo, ống quần hoặc quần áo ngắn là makruh. Việc thực hiện salat với đầu trần do lười biếng hoặc thiếu nhận thức về tầm quan trọng của việc đội mũ khi cầu nguyện là makruh. Và việc coi nhẹ salat có thể dẫn đến sự phủ nhận đức tin. Việc thực hiện salat trong quần áo bẩn hoặc quần áo làm việc (tức là quần áo dơ bẩn và dính dầu mỡ) là makruh.

5- Qa’da al-akhira

Trong rak'at cuối cùng, việc ngồi trong thời gian đủ để đọc Attahiyyatu là fard. Bạn không làm dấu bằng ngón tay khi ngồi. Khi ngồi, nam giới đặt chân trái phẳng xuống đất, các ngón chân hướng sang bên phải, ngồi trên chân trái. Chân phải phải đứng thẳng, với các ngón chân chạm đất và hướng về phía qibla. Đây là sunnah khi ngồi. Phụ nữ ngồi theo cách tawarruk, tức là ngồi với mông chạm đất. Đùi của họ phải gần nhau và chân phải hướng ra ngoài về phía bên phải.

Có phải tưởng nhớ các bạn của Vị tiên tri,
Ở nơi có cây selem làm bạn khóc?
Hãy nói, có phải là gió của Medina khiến bạn khóc?
Hay là tia sét vào ban đêm từ Núi Idam?
Qasidat al-Burda

CÁC BỘ PHẬN AWRAT VÀ VIỆC CHE KÍN CỦA PHỤ NỮ

Abu Sa’id al-Khudri (radiyallahu ’anh) thuật rằng: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã tuyên bố, “Đàn ông không được phép nhìn bộ phận awrat của người đàn ông khác, và phụ nữ không được phép nhìn bộ phận awrat của người phụ nữ khác!” Như đã thấy, việc đàn ông nhìn phụ nữ và việc phụ nữ nhìn vào bộ phận awrat của đàn ông là haram, và tương tự như vậy, việc đàn ông nhìn vào bộ phận awrat của người đàn ông khác là haram và việc phụ nữ nhìn vào bộ phận awrat của người phụ nữ khác là haram. Bộ phận awrat của đàn ông (là haram) đối với những người đàn ông khác (nhìn) nằm giữa đầu gối và rốn của họ. Quy tắc tương tự cũng áp dụng đối với phụ nữ. Đối với bộ phận awrat của phụ nữ (là haram) đối với đàn ông (nhìn), đó là toàn bộ cơ thể của cô ấy ngoại trừ bàn tay và khuôn mặt. Do đó, phụ nữ được gọi là awrat(s). Bất kể một người phụ nữ là người Muslim hay không phải người Muslim, việc nhìn vào khuôn mặt của một người phụ nữ na-mahram (không có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân) với shahwa (dục vọng) là haram, và việc nhìn vào các bộ phận awrat của cô ấy ngay cả khi không có dục vọng cũng là haram. Jabir ibn Abdullah (radiyallahu ’anh) thuật lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) nói, “Đừng ngủ qua đêm tại nhà của một người phụ nữ na-mahram!” Aqaba ibn Amir (radiyallahu ’anh) thuật lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) nói, “Đừng ở một mình với một người phụ nữ na-mahram trong một căn phòng riêng! Nếu một người phụ nữ ở riêng với anh trai chồng hoặc với con trai của người sau, cô ấy sẽ bị trôi dạt xa tới cái chết.” Nghĩa là, nó sẽ gây ra fitna (điều này có nghĩa là những kết quả thảm khốc.) Không nên tiếc bất kỳ nỗ lực nào để tránh nó. Hadith ash-sharif này được trích dẫn trong Sahih al-Bukhari và Sahih al-Muslim. Abdullah ibn Mes’ud (radiyallahu ’anh) thuật lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã nói, “Cơ thể của phụ nữ là awrat.” Nghĩa là, nó phải được che phủ. “Khi một người phụ nữ ra ngoài, shaytan luôn nhìn cô ấy.” (Nghĩa là, hắn sử dụng cô ấy như một mồi nhử để lừa đàn ông và dẫn họ phạm tội.) Burayda (radiyallahu ’anh) thuật lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) nói với Hadrat Ali, “Ya Ali! Khi bạn nhìn thấy một người phụ nữ, hãy quay mặt đi khỏi cô ấy. Đừng nhìn cô ấy lần nữa! Không có tội khi bất ngờ nhìn thấy cô ấy. Nhưng, nhìn cô ấy lần nữa là một tội lỗi.” Abu Dawud và Darimi đã trích dẫn. Ali (radiyallahu ’anh) thuật lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã nói, “Này Ali! Đừng để lộ đùi của ngươi, và đừng nhìn vào đùi của người khác, dù đã chết hay còn sống!” Hadith ash-sharif này được Abu Dawud và Ibn Maja trích dẫn. Do đó, nhìn vào các bộ phận awrat của một người đã chết cũng giống như nhìn vào các bộ phận awrat của một người còn sống. (Chúng ta phải cố gắng hết sức để tránh nhìn vào các bộ phận awrat của những người chơi thể thao và bơi lội.) Abdullah ibn 'Umar

(radiyallahu 'anhuma) thuật lại: Rasulullah (sall Allahu 'alaihi wa sallam) nói, “Đừng để lộ những bộ phận awrat của ngươi! (Đừng để lộ chúng ngay cả khi bạn ở một mình.) Vì, có những tạo vật không bao giờ để bạn một mình. Hãy xấu hổ khi ở trước mặt họ và tôn trọng họ!” Họ là những thiên thần được gọi là Hafaza, những người bảo vệ bạn khỏi jinn và chỉ để bạn một mình khi bạn đi vệ sinh và trong khi quan hệ vợ chồng. Umm Salama (radiyallahu 'anha) kể lại: Maymuna (radiyallahu 'anha) và tôi đang ở với Rasulullah (sallallahu 'alaihi wa sallam), khi Ibn Umm Maktum (radiyallahu 'anha) xin phép (vào) và bước vào. Khi Rasulullah (sallallahu 'alaihi wa sallam) nhìn thấy anh ta, Ngài nói với chúng tôi, “Lui ra sau bức màn!” Khi tôi nói, “Anh ta không mù sao? Anh ta sẽ không nhìn thấy chúng ta”, Tạo vật cao quý nhất nói “Ngươi cũng mù sao? Ngươi sẽ không nhìn thấy anh ta sao”. Nói cách khác, “Anh ta có thể mù, nhưng bạn thì không”.

“Này Ali! Khi ngươi thấy một người phụ nữ, hãy quay mặt đi, đừng nhìn cô ấy thêm nữa! Không có tội khi bất ngờ nhìn thấy cô ấy. Nhưng, nhìn cô ấy lần nữa là một tội lỗi.” Hadith ash-sharif

Hadith ash-sharif này được trích dẫn bởi Imam Ahmad, Tirmidhi và Abu Dawud (rahimahumullahu ta’ala). Theo hadith ash-sharif này, như là haram đối với một người đàn ông nhìn vào một người phụ nữ không phải là mahram của mình, tương tự như vậy, một người phụ nữ cũng không được phép nhìn vào một người đàn ông không phải là mahram của cô ấy. Các imam của bốn madhhab của chúng ta (rahimahumullahu ta’ala), sau khi xem xét các hadith ash-sharif khác, cũng đã thống nhất về vấn đề này và nói rằng: “Việc một người phụ nữ không nhìn vào đầu và tóc của một người đàn ông na-mahram là điều khó thực hiện. Những mệnh lệnh khó làm được gọi là ‘azimat. Phần awrat của người đàn ông đối với phụ nữ là từ rốn đến đầu gối. Việc không nhìn vào những phần đó là điều dễ dàng. Những điều dễ làm được gọi là rukhsat.” Như đã thấy, các Azwaj at-Tahirat (những người vợ thuần khiết của Prophet của chúng ta) (radiyallahu ta’ala ’anhunna) và các Ashab al-Kiram (radiyallahu ’anhum) đã ưu tiên con đường của ’azimats (những điều nghiêm ngặt) và tránh những rukhsats (những điều dễ dãi). Lý luận rằng, “Phụ nữ không che đậy bản thân trong thời của Prophet. Những hình ảnh kịch tính ngày nay, trong đó chúng ta thấy phụ nữ che đậy bản thân như những con quái vật, không tồn tại trong thời kỳ đó. Hadrat Aisha, ví dụ, đi lại mà không đội khăn. Phong tục hiện nay về việc phụ nữ che đậy bản thân đã được sáng tạo sau này bởi những người cực đoan và những người học giả fiqh,” là một lời vu cáo ghê tởm được phát tán bởi những kẻ âm mưu người Anh, những kẻ thực sự có mục đích phá hoại Islam từ bên trong và bởi những kẻ zindiq. ’Umar al-Faruq (radiyallahu ’anh) kể lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã nói, “Nếu một người đàn ông ở một mình với một người phụ nữ không phải là mahram của anh ta, shaytan sẽ gia nhập với họ như một người thứ ba.” Hadith ash-sharif này được Tirmidhi trích dẫn. [Việc làm halwat với một hoặc nhiều phụ nữ không phải là mahram là haram, tức là một người đàn ông và một người phụ nữ ở riêng trong một không gian kín. Ibn Abidin nói như sau trong bài luận của ông về việc làm imam, “Nếu có một người đàn ông khác hoặc một người phụ nữ là người thân gần của người đàn ông (đầu tiên) gọi là zi-rahm al-mahram, thì sự việc đó sẽ không phải là halwat.”] Jabir ibn Abdullah (radiyallahu ’anh) kể lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã nói, “Đừng thăm những phụ nữ có chồng vắng nhà! Bởi vì, (nếu các bạn làm vậy,) shaytan sẽ lưu thông như máu trong các tĩnh mạch của các bạn.” Khi họ nói, “Liệu shaytan có lưu thông trong cơ thể của Ngài không?” Người Yêu dấu của Allahu ta’ala đã trả lời, “Có. Shaytan cũng sẽ lưu thông trong cơ thể của ta. Tuy nhiên, Allahu ta’ala đã giúp ta chống lại hắn. Ngài đã làm cho hắn trở thành một người Muslim để hắn đầu phục ta.” Hadith này được thuật lại bởi Tirmidhi (cầu Allah thương xót ông). Umm Salama (cầu Allah hài lòng với bà) thuật lại: Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) đã ở với tôi trong phòng. Lúc đó, một người nô lệ của anh trai tôi, Abdullah ibn Abi Umayya, cũng ở trong phòng. Người này là muhanneth (người đàn ông ẻo lả, giống phụ nữ). Khi Rasulullah thấy người này và nghe giọng nói của hắn, Ngài nói: “Đừng cho những người như thế này vào nhà các ngươi!” Hadith này được ghi trong Bukhari và Muslim. Muhanneth là người đàn ông (hoặc con trai) có hành vi, cử chỉ, giọng nói và trang phục giống phụ nữ. Những người như vậy bị Allah nguyền rủa. Một hadith ash-sharif nói về họ rằng: “Cầu Allah nguyền rủa những người đàn ông tự biến mình thành phụ nữ và những người phụ nữ tự biến mình thành đàn ông!” Phụ nữ mặc quần áo như đàn ông, cắt tóc như nam giới, hoặc làm những việc thuộc trách nhiệm của đàn ông, và đàn ông nuôi tóc dài, trang điểm như phụ nữ mà không có lý do chính đáng (’udhr) đều nằm trong phạm vi bị cấm theo hadith này. Hồi giáo cấm phụ nữ che cơ thể bằng vải mỏng có thể nhìn thấy bên trong. Một hadith ash-sharif được ghi trong sách Muslim và Muwatta nói: “Những phụ nữ mặc quần áo nhưng như thể khỏa thân, và những người có đầu nổi lên như bướu lạc đà sẽ không được vào Thiên đàng. Họ sẽ không bao giờ ngửi thấy mùi thơm của Jannah, mặc dù mùi thơm của Jannah có thể đến những nơi rất xa.” Hadith ash-sharif này cấm phụ nữ mặc những bộ đồ mỏng, trong suốt và ôm sát cơ thể, cũng như cấm mang vớ và khăn trùm đầu mỏng, và quấn tóc thành búi trên đầu. Mặc như vậy giống như đi lại mà không có quần áo. Phụ nữ và gái Muslim không nên mặc đồ mỏng, ôm sát và không nên quấn tóc hoặc tóc giả của mình thành những búi như lưng lạc đà trên đầu. Họ cần biết rằng những hành động tội lỗi này có thể dẫn đến Jahannam. Trong sách Hindiyya có ghi: “Được phép nhìn vào phụ nữ khi họ mặc đồ dày và rộng. Không được phép nhìn vào phụ nữ mặc đồ bó sát. Haram khi nhìn với dục vọng vào khuôn mặt của phụ nữ đã che đậy đúng cách. Ngay cả khi không có dục vọng và không có lý do, thì cũng là makruh (không được khuyến khích). Cùng một quy định áp dụng đối với việc nhìn vào phụ nữ không phải là Muslim. Theo một lời giải thích của các học giả, chỉ có thể nhìn vào tóc của họ.” Việc mặc một bộ đồ rộng, dày và có màu tối, giống như một chiếc áo khoác dài đến gót chân và che phủ cả cánh tay và cổ tay là tốt hơn so với việc mặc một lớp trang phục gọi là charshaf, được chia thành hai phần. Trong Halabi-yi Kabir, có nói: “Tóc của một phụ nữ tự do (Muslim) mà rủ xuống đến tai là awrat (vùng cần che) theo sự đồng thuận của các học giả (Islam). Cũng tương tự như vậy đối với phần tóc rủ xuống dưới tai, theo ý kiến của đa số các học giả.

“Cầu Allah nguyền rủa những người đàn ông tự biến mình thành phụ nữ và những người phụ nữ tự biến mình thành đàn ông!” Hadith ash-sharif

Theo một số học giả, phần tóc rủ xuống không phải là awrat trong khi cầu nguyện. Tuy nhiên, một người đàn ông na-mahram cũng không được phép nhìn vào phần tóc đó.” Cô ấy phải che hết tóc bằng một chiếc khăn trùm đầu dày. Phần trước giữa khăn trùm đầu phải sát vào trán và kéo xuống gần đến lông mày, cả hai bên phải được che đến tận cùng lông mày, uốn cong xuống, kéo dài xuống cằm, ghim lại với nhau trên cằm và hai đầu khăn rủ xuống ngực, và phần giữa phía sau phải che phần trên của lưng. Nếu fitna có thể sẽ phát sinh, thì má cũng phải được che lại. Cô ấy cũng phải đi tất dày và tối màu. Nếu một phần tư tóc rủ xuống của người phụ nữ vẫn lộ ra dù một rukn (trong lễ nguyện), thì lễ nguyện mà cô ấy thực hiện sẽ không phải là sahih. Và sẽ là makruh nếu một phần nhỏ hơn vẫn lộ ra (đủ dài). Không một cuốn sách Islam nào phân biệt người trẻ với người già liên quan đến độ tuổi của người phụ nữ. Có những học giả Islam đã tuyên bố rằng việc chấp nhận lời chào của một bà lão hoặc bắt tay (musafaha) với bà ấy hoặc chào halwat với bà ấy là được phép; tuy nhiên, không một học giả Islam nào tuyên bố rằng việc một bà lão để tóc hoặc đàn ông (những người là na-mahram đối với bà ấy) được phép nhìn vào tóc bà ấy là được phép. Một số học giả Islam đã nói rằng việc nhìn vào tóc của một phụ nữ không phải là người Muslim là được phép. Nhưng không ai trong số họ nói rằng việc nhìn vào tóc của một bà lão Muslim là được phép. Các học giả Islam đã tuyên bố rằng việc một bà lão vào thánh đường Islam hoặc đến thăm nghĩa trang là được phép đã tuyên bố rằng tóc của bà ấy phải được che phủ đúng cách.

Một người tự nhận là người Hồi giáo cần phải biết liệu hành động mình sắp làm có phù hợp với Hồi giáo hay không. Nếu không biết, người đó phải học hỏi bằng cách hỏi các học giả Ahl as-Sunnah hoặc đọc sách của các học giả này. Nếu hành động đó không phù hợp với Hồi giáo, người đó sẽ không tránh khỏi tội lỗi hoặc sự không tin. Người đó nên ăn năn thật lòng (tawba) mỗi ngày. Một hành động tội lỗi hoặc không tôn giáo chắc chắn sẽ được tha thứ (bởi Allahu ta'ala) nếu có sự ăn năn. Nếu không ăn năn, người đó sẽ phải chịu hình phạt và trừng phạt cả ở thế gian lẫn trong Jahannam.​ Các bộ phận trên cơ thể nam và nữ phải được che phủ khi thực hiện namaz và ở nơi khác được gọi là bộ phận awrat. “Việc để lộ bộ phận awrat của mình hoặc nhìn vào bộ phận awrat của người khác là haram.” Một người nói rằng trong Hồi giáo không có bộ phận awrat sẽ trở thành người không tin. Tôn giáo của chúng ta yêu cầu chúng ta che phủ các bộ phận awrat của mình. Một nơi có người đàn ông hoặc phụ nữ với bộ phận awrat lộ ra hoặc nơi có nhạc cụ đang được chơi và/hoặc người đang đánh bạc và/hoặc đồ uống có cồn đang được tiêu thụ và/hoặc người đang nghe phụ nữ hát được gọi là nơi của fisq. Việc đến những nơi fisq là haram. Trái tim cũng phải trong sạch. Trái tim trong sạch có nghĩa là có đạo đức tốt đẹp. Trái tim được thanh tẩy bằng cách tuân theo Hồi giáo. Những người không tuân theo Hồi giáo không thể có trái tim trong sạch. Nếu một người nói rằng việc để lộ một phần cơ thể là halal trong tất cả bốn madhhab, điều này là ijma’ (đồng thuận của tất cả các học giả Hồi giáo), hoặc nhìn vào bộ phận awrat của người khác hoặc nếu anh ta không coi trọng điều đó, tức là nếu anh ta không sợ bị trừng phạt vì hành động tội lỗi đó, anh ta trở thành người không tin. Quy tắc tương tự áp dụng cho phụ nữ để lộ bộ phận awrat của mình, hát hoặc thực hiện Mawlid trước mặt đàn ông. Một người nói: “Tôi là người Hồi giáo,” cần phải học những điều cơ bản về iman và Hồi giáo và các fard và haram được tất cả bốn madhhab dạy và tôn trọng chúng. Việc không biết chúng không phải là một 'udhr. Tức là, nó giống như biết chúng và phủ nhận chúng. “Toàn bộ cơ thể của phụ nữ, ngoại trừ khuôn mặt và bàn tay, là awrat (tức là phải được che phủ) trong tất cả bốn madhhab.” Nếu một người Hồi giáo một cách thờ ơ để lộ một phần cơ thể của mình mà không có ijma’, tức là nếu nó không phải là awrat theo một trong ba madhhab còn lại, người đó sẽ phạm tội nặng theo madhhab của mình, mặc dù họ sẽ không trở thành kafir (người không tin). Một ví dụ về điều này là đàn ông để lộ bộ phận giữa đầu gối và háng của mình. Việc học hỏi những điều mình không biết là fard đối với một người Hồi giáo. Một khi họ đã học về nó, họ phải ăn năn ngay lập tức và che phủ bộ phận đó của mình.

Điều gì đã xảy ra với đôi mắt tuôn trào những giọt nước mắt này của Ngài?
Ngài càng nói hãy lấy lại chính mình, trái tim Ngài càng bùng cháy.
Lòng tốt của Hadrat Muhammad như cơn mưa xuống,
Là những giọt mà mọi nhà tiên tri đều muốn.
Tâm hồn và thể xác Ngài, trong sạch và kín đáo,
Trong tạo vật hiện hữu, Ngài là người được Haqq yêu quý.
Đức hạnh và sự tuyệt vời của Ngài là không thể kể,
Không thể nói bằng lời sự xuất sắc của Ngài.
Nếu mọi phép lạ của Rasulullah,
Có thể nói về là sự vĩ đại của Ngài,
Khi thánh danh của Ngài được nhắc đến,
Tất cả xương đã phân hủy đều hồi sinh.
Ngài không giao phó cho chúng ta những gì không thể,
Vương miện trên đầu chúng ta là mệnh lệnh, là lệnh cấm của Ngài.
Qasidat al-Burda

CÁCH HÀNH LỄ SALAT

“Allahu ta’ala ra lệnh cho chúng ta phải thực hiện lễ nguyện năm lần mỗi ngày. Allahu ta’ala đã hứa rằng Người sẽ tha thứ tội cho ai thực hiện việc thanh tẩy đúng và thực hiện năm lễ nguyện này đúng giờ với ruku’ và sajda đúng. Người không hứa với ai không thực hiện như thế. Người sẽ tha thứ hoặc hành hạ người ấy.” Hadith ash-sharif

Cách một người đàn ông thực hiện salat một cách riêng lẻ

Ví dụ, salat sunnah buổi sáng được thực hiện như sau:

1- Bạn quay về phía qibla. Gót chân cách nhau bốn ngón tay. Đầu ngón tay cái chạm vào dái tai và lòng bàn tay hướng về phía qibla. Sau khi thông qua trái tim, nói rằng, “Tôi định thực hiện salat sunnah buổi sáng hôm nay vì Allah, tôi đã quay về phía qibla”, và nói rằng, “Allahu akbar”, tay phải nắm lấy cổ tay trái dưới rốn.

2- Giữ mắt cố định vào nơi đầu sẽ chạm vào để sajda (lễ lạy):

a) Bạn đọc lời cầu nguyện Subhanaka.

b) Sau khi đọc A'udhu và Basmala, bạn đọc surah al-Fatiha.

c) Sau Fatiha, không nói Basmala, bạn đọc thêm một surah, ví dụ, Surah Fil. Nếu bạn nói Basmala, bạn sẽ nhận được phần thưởng của việc tuân thủ một mustahab.

3- Sau khi đọc surah bổ sung, bạn cúi xuống ruku' (cúi đầu bằng cách đặt tay lên đầu gối) nói, “Allahu akbar”. Trong ruku', bạn mở các ngón tay và nắm lấy đầu gối. Bạn giữ lưng và đầu thẳng ở cùng một mức. Bạn nhìn vào bàn chân của mình và nói, “Subhana Rabbiyal-'azim” ba lần. Nếu bạn nói 5, 7, 9 hoặc 11 lần, bạn sẽ nhận được phần thưởng của việc tuân thủ một mustahab.

4- Bạn thẳng người ra khỏi ruku' và nói, “Sami'allahu liman hamidah”. Trong khi thẳng người lên, bạn không được kéo quần lên và không được rời mắt khỏi vị trí của sajda. Khi bạn đứng thẳng, bạn nói, “Rabbana lakal hamd”. (Đứng thẳng này được gọi là qawma.)

5- Bạn đứng yên một lúc rồi quỳ xuống để sajda và nói, “Allahu akbar”. Trong khi quỳ xuống để sajda, theo thứ tự:

a) Trước hết, đặt đầu gối phải xuống, rồi đến đầu gối trái, kế đến là tay phải, rồi đến tay trái, trên sàn. Cuối cùng, chạm mũi và trán xuống sàn.

b) Những ngón chân hướng về phía qibla.

c) Đầu phải đặt giữa hai bàn tay.

d) Những ngón tay phải khép lại cùng nhau.

e) Lòng bàn tay nằm trên mặt đất, không để khuỷu tay chạm đất.

f) Bạn nói, “Subhana Rabbiyal-a’la” ít nhất ba lần trong sajda. Nếu bạn nói 5, 7, 9 hoặc 11 lần, bạn sẽ nhận được phần thưởng là tuân thủ một mustahab. Sau đó;

6- Khi nói, “Allahu akbar”, đặt bàn chân trái áp phẳng trên mặt đất, các ngón chân trái hướng về phía bên phải. Bàn chân phải dựng đứng với các ngón chân chạm đất và đàu ngón chân hướng về phía qibla. Bạn ngồi trên đùi đủ lâu để nói “subhanallah” (nhưng thực ra bạn không nói) với lòng bàn tay đặt trên đầu gối hướng về phía qibla và các ngón tay hơi mở.

7- Nói “Allahu akbar”, bạn lại phủ phục để sajda. (Ngồi yên một lúc, giữa hai sajda, được gọi là jalsa.)

8- Sau khi nói “Subhana Rabbiyal-a'la” ít nhất ba lần trong sajda, bạn đứng dậy để thực hiện rak'at thứ hai và nói “Allahu akbar”. Khi đứng dậy khỏi sajda, trước tiên bạn phải ngẩng trán, sau đó là mũi, sau đó là tay trái và tay phải, sau đó là đầu gối trái và đầu gối phải.

9- Khi đứng, bạn nói Basmala, Fatiha và một surah bổ sung. Sau đó, bạn cúi xuống để ruku' và nói “Allahu akbar”.

10- Rak’at thứ hai (các đơn vị salat, mỗi đơn vị bao gồm các hành động đứng, cúi chào và phủ phục hai lần) được hoàn thành theo cùng cách như đã nêu chi tiết cho rak’at đầu tiên. Tuy nhiên, sau sajda thứ hai, khi bạn nói, “Allahu akbar,” bạn không đứng dậy mà ngồi trên đùi của mình.

a) Sau khi đọc các lời cầu nguyện Attahiyyatu, Allahumma salli, Allahumma barik và Rabbana atina, trước tiên bạn thực hiện salam sang phải, sau đó sang trái, nói, “Assalamu ‘alaikum wa rahmatullah”.

b) Sau đó, bạn đọc lời cầu nguyện “Allahumma antas-salam wa minkas-salam tabarakta ya dhal jalali wal-ikram.” Sau đó, bạn đứng dậy và thực hiện hai rak’at của salat fard buổi sáng theo cùng một cách nhưng bằng cách làm niyyat cho fard. Bạn không nên nói chuyện giữa sunnah và fard hoặc fard và sunnah. Mặc dù nó không phủ nhận salat nhưng nó làm giảm phần thưởng của sunnah. Sau khi hoàn thành salat, bạn đọc lời cầu nguyện “Allahumma antas salam…” và đọc ba câu istighfar hoàn chỉnh, “Astaghfirullalahal'azim al karim allazi la-ilaha illa huv al-hayyal-kayyuma ve atubu ilayh.” Sau đó, bạn đọc thuộc lòng Ayat al-kursi và nói 33 tasbih, “Subhanallah”, 33 tahmid, “Alhamdulillah”, 33 takbir, “Allahu akbar”, và một tahlil, “La ilaha illallahu wahdahu la sharikalah, lahulmulku wa lahulhamdu wa huwa 'ala kulli shay'in qadir.” Những lời cầu nguyện này phải được nói một cách nhẹ nhàng. Bạn phải nói to chúng lên. Sau đó, bạn thực hiện du’a (lời cầu nguyện). Trong khi cầu nguyện, đàn ông giơ cánh tay lên ngang ngực. Cánh tay không cong ở khuỷu tay. Lòng bàn tay mở ra; chúng hướng về bầu trời. Vì, qibla cho salat là Ka’ba, và qibla cho lời cầu nguyện là bầu trời. Sau khi cầu nguyện, bạn đọc ayat al-karima, “Subhana Rabbika...” và nhẹ nhàng xoa tay lên mặt.

Cách thực hiện những salat khác

Nếu salat có 3 rak’at (fard của salat buổi tối và salat witr), hai rak’at đầu tiên được thực hiện giống như hai rak’at của salat buổi sáng (trừ Allahumma salli, Allahumma barik và Rabbana atina ở rak’at thứ hai). Vào rak’at thứ ba của salat buổi tối, bạn chỉ đọc Fatiha, không có surah bổ sung nào. Vào rak’at thứ ba của salat witr, sau Fatiha, bạn đọc thêm một surah và nói takbir, bạn giơ cả hai tay lên tai và (sau khi nắm lại bàn tay trái ở cổ tay bằng bàn tay phải) bạn đọc những lời cầu nguyện được gọi là Qunut. Sau ruku’ và sajda của rak’at thứ ba, bạn ngồi xuống.

“Allahu ta’ala sẽ không chấp nhận lễ nguyện được thực hiện bởi một người đã bỏ qua dù chỉ một lễ nguyện và do đó có một món nợ lễ nguyện, hoặc người mặc quần áo (jilbab) haram.” Hadith ash-sharif

Nếu salat có 4 rak’at, thì hai rak’at đầu tiên được thực hiện giống như hai rak’at của salat buổi sáng (trừ Allahumma salli, Allahumma barik và Rabbana atina ở rak’at thứ hai). Ở tư thế ngồi vào cuối rak’at thứ hai của fard và wajib salat và sunnah đầu tiên của salat buổi chiều, bạn chỉ đọc lời cầu nguyện Attahiyyatu, sau đó đứng dậy. Ở rak’at thứ ba và thứ tư của fard salat, chỉ đọc Fatiha; bạn không đọc thêm surah nào. Ở lần ngồi đầu tiên của ghayr al-muakkad sunnah salat (sunnah của salat cuối buổi chiều và sunnah đầu tiên của salat đêm), sau Attahiyyatu, Allahumma salli và Allahumma barik được đọc. Ở rak’at thứ ba, Subhanaka, A’udhu và Basmala và Surah al Fatiha được đọc. Ở rak’ats thứ ba và thứ tư, sau Fatiha, một surah bổ sung được đọc. Sau ruku’ và sajda của rak’at thứ tư, bạn ngồi. Ở lần ngồi cuối cùng trong các salat có 3 hoặc 4 rak’at, sau khi đọc Attahiyyatu, Allahumma salli, Allahumma barik và Rabbana atina, trước tiên bạn thực hiện salam sang phải, nói rằng, “Assalamu ‘alaikum wa rahmatullah”, sau đó sang trái, nói rằng, “Assalamu ‘alaikum wa rahmatullah”. Sau salam, bạn đọc lời cầu nguyện, “Allahumma antas-salam wa minkas salam tabarakta ya zal jalali wal-ikram.” Các salat nafila khác được thực hiện dưới dạng 4 rak’at được thực hiện giống như ghayr al-muakkad sunnah.

Cách một người phụ nữ thực hiện salat một cách riêng lẻ

Một người phụ nữ thực hiện cầu nguyện riêng lẻ, ví dụ như cầu nguyện sunnah buổi sáng, thực hiện như sau:​ a) Cô ấy che kín cơ thể từ đầu đến chân, không để lộ đường nét cơ thể. Chỉ để hở tay và mặt. Cô ấy sẽ đọc các surah và lời cầu nguyện trong salat giống như một người đàn ông thực hiện salat riêng lẻ, như đã đề cập trước đó.​ b) Trong tư thế ruku’, phụ nữ không để hai chân chạm vào nhau. Cô ấy đặt tay lên đầu gối; không nắm chặt đầu gối hoặc mở rộng ngón tay, giữ chúng khép lại. Cô ấy không giữ lưng, đầu, chân hoặc tay thẳng.​ c) Phụ nữ đặt cẳng tay lên sàn trong tư thế sajda, tay chạm vào thân mình. Bụng và đùi chạm vào nhau.​ d) Phụ nữ ngồi trên mông trong các tư thế ngồi. Đùi nên gần nhau. Chân nên hướng ra ngoài bên phải. Đặt tay lên đùi và giữ ngón tay khép lại.​ e) Trong khi cầu nguyện (du’a), phụ nữ không nâng tay về phía trước; thay vào đó, cô ấy giữ lòng bàn tay hướng về phía mặt.​

Cách tốt nhất để phụ nữ che kín cơ thể khi thực hiện salât là mặc một chiếc khăn che đầu đủ rộng để che cả tay và một chiếc váy rộng đủ dài để che phủ đôi chân.

Một ví dụ về lời cầu nguyện được đọc sau khi cầu nguyện salat

“Alhamdullahi Rabbil’alemin. Assalatu wassalamu ala Rasulina Muhammadin wa Alihi wa Sahbihi ajma’in. Lạy Rab! Xin hãy chấp nhận lễ nguyện mà con đã thực hiện! Xin ban phước cho con với khayr (lòng tốt) trong những năm cuối đời và trong ’aqibat (kết thúc) của con. Xin ban phước cho con với may mắn được nói Kalima at-tawhid trong hơi thở cuối cùng của con. Xin ban phước cho những người thân đã khuất của con với ’afw và maghfirat (sự tha thứ và lòng trắc ẩn) của Người. Allahummaghfir warham wa anta khayrur-rahimin. Tavaffani Musliman wa alhiqni bis-salihin. Allahummaghfirli wa li-walidayya wa li-ustaziyya wa lil-mu’minina wal mu’minat yawma yaqumul hisab. Lạy Rab! Xin bảo vệ con khỏi những điều xấu xa của shaytan và khỏi những điều xấu xa của kẻ thù và khỏi những điều xấu xa của chính nafs al-ammara của con! Xin ban phước lành, halal và sự nuôi dưỡng may mắn cho ngôi nhà của chúng con! Xin ban sự cứu rỗi cho người Muslim! Khiến kẻ thù của người Muslim trở nên khốn khổ và bị hủy hoại! Với sự giúp đỡ thiêng liêng của Người, xin hãy giúp những người Muslim đang thực hiện cuộc thánh chiến chống lại những kẻ không tin! Allahumma innaka ’afuwwun karimun tuhib-bul ’afwa fa’fu ’anni. Lạy Rab! Xin ban sự phục hồi cho những người bệnh trong chúng con, ban sự cứu giúp cho những người đang gặp khó khăn trong chúng con! Allahumma inni as’aluka sihhata wal-afiyata wal-amanata wa husnal-khulqi war-ridaa bil-qadari birahmatika ya erhamer-rahimin. Xin ban cho cha mẹ, con cái, họ hàng, bạn bè và tất cả anh em trong tôn giáo của con một cuộc sống có ích, đạo đức tốt, tinh thần minh mẫn, afiyat (sức khỏe tốt) và istiqamet (đi đúng con đường mà Allahu ta’ala thích)! Amin. Wal-hamdu-lil-lahi Rabbil’alemin. Allahumma salli ’ala sayyidina Muhammadin wa ’ala Al-i Muhammad, kama sallay-ta ’ala Ibrahima wa ’ala Al-i Ibrahim, innaka hamid-un-Mejid. Allahumma barik ’ala Muhammadin wa ’ala Al-i Muhammad, kama barakta ’ala Ibrahima wa ’ala Al-i Ibrahim, innaka hamid-un-Mejid. Allahumma Rabbana atina fid-dunya hasanatan wa fil akhirat-i hasanatan wa qina ’azaban-nar birahmatika ya Erhamer-rahimin. Wal-hamdulil-lahi Rabb-il’alemin. Astaghfirullah, astaghfirullah, astaghfirullah, estaghfirullahal’azim al-karim al-lezi la ilaha illa huw al-Hayy-al-Qayyuma wa atubu ilaih.”

Những wajib của salat

Những wajib của salat là:

1- Đọc Surah al-Fatiha.

2- Đọc thêm một surah hoặc ít nhất là ba ayat ngắn sau Fatiha.

3- Đọc Fatiha trước surah bổ sung.

4- Đọc Fatiha và surah bổ sung trong các rak’at đầu tiên và thứ hai của salat fard và trong mọi rak’at của salat sunnah và wajib.

5- Thực hiện (hai) sajda ngay sau nhau.

6- Ngồi lâu như tashahhud trong rak’at thứ hai của salat bao gồm ba hoặc bốn rak’at. Ngồi trong rak’at cuối cùng là điều bắt buộc.

7- Không ngồi lâu hơn tashahhud trong rak’at thứ hai.

8- Trong khi sajda, phải đặt cả mũi và trán xuống đất.

9- Đọc Attahiyyatu trong tư thế ngồi ở rak’at cuối cùng.

10- Thực hiện ta’dil al-arkan, tức là (giữ nguyên tư thế) trong thời gian đủ để nói “Subhanallah”.

11- Nói “Assalamu ‘alaikum wa rahmatullah” vào cuối salat.

“Ai thực hiện lễ nguyện của mình sẽ xây dựng nên tôn giáo. Ai không thực hiện lễ nguyện sẽ phá hủy tôn giáo của mình. Salat là mi’raj của người Muslim.”
Hadith ash-sharif

12- Đọc lời cầu nguyện qunut ở rak’at thứ ba của salat witr.

13- Đọc takbir trong các salat Eid.

14- Imam phải đọc to các ayat trong các buổi salat sáng, thứ sáu, Eid, tarawih, witr và trong hai rak’at đầu tiên của buổi salat tối và đêm.

15- Đối với chủ tế, cũng như đối với người thực hiện lễ nguyện một mình, việc đọc các ayat ở mức độ gần như thì thầm không nghe thấy trong lẽ nguyện bắt buộc đầu và cuối buổi chiều là wajib, trong rak'at thứ ba của lễ nguyện buổi tối và trong rak'at thứ ba và thứ tư của lễ nguyện buổi tối. Các surah wajib để imam đọc to thì được phép cho một người thực hiện lễ nguyện một mình đọc to cũng như đọc nhỏ.

Từ buổi lễ nguyện buổi sáng vào ngày Arafa, tức là ngày trước lễ Eid Qurban, cho đến sau buổi lễ nguyện vào cuối buổi chiều ngày thứ tư, tổng cộng là hai mươi ba buổi lễ nguyện, mọi người đều phải wajib, nói Takbir altashriq (Allahu akbar, Allahu akbar. La ilaha illallahu wallahu akbar. Allahu akbar wa lillahil-hamd) một lần ngay sau khi thực hiện salam trong bất kỳ buổi lễ nguyện nào là điều bắt buộc.

Sajda as-sahw (Sajda được thực hiện do thiếu sót và lỗi)

Khi một người thực hiện lễ nguyện cố ý hoặc vô tình bỏ sót một lễ nguyện bắt buộc, lễ nguyện của người đó bị phá vỡ. Việc bỏ sót một trong những lễ nguyện wajib mà không cố ý không phá vỡ lễ nguyện. Tuy nhiên, người đó phải thực hiện sajda as-sahw. Một người không thực hiện sajda as-sahw bắt buộc một cách cố ý hoặc bỏ sót một trong những lễ nguyện wajib một cách cố ý phải thực hiện lại lễ nguyện đó. Đây là wajib. Nếu không, người đó sẽ trở nên có tội. Việc bỏ sót một sunnah không yêu cầu phải thực hiện sajda as-sahw. Sajda as-sahw được thực hiện khi trì hoãn/lặp lại một điều bắt buộc hoặc bỏ sót/trì hoãn/lặp lại một wajib.

Trong trường hợp cần thực hiện nhiều sajda as-sahw, thì chỉ cần thực hiện một sajda as-sahw là đủ. Khi imam phạm lỗi trong một lễ nguyện và thực hiện sajda as-sahw, jama’at cũng phải thực hiện. Nếu một người trong jama’at mắc lỗi, anh ta không thực hiện sajda as-sahw riêng với imam.

Để thực hiện sajda as-sahw; sau khi nói Attahiyyatu, bạn thực hiện salam riêng (vào cuối lễ nguyện), sau đó thực hiện hai sajda và sau đó ngồi xuống để hoàn thành lễ nguyện. Bạn nói Attahiyyatu, Salli và barik, Rabbana cầu nguyện trong tư thế ngồi. Cũng được phép thực hiện sajda as-sahw sau khi thực hiện salam sang cả hai bên cũng như không thực hiện salam nào cả.

Khi nào thì cần sajda as-sahw

Đứng lên khi bạn phải ngồi xuống. Ngồi xuống khi bạn phải đứng lên. Đọc thầm khi bạn phải đọc to. Đọc to khi bạn phải đọc thầm. Đọc từ Qur'an al-karim, khi người ta phải đọc một lời cầu nguyện. Đọc một lời cầu nguyện khi người ta phải đọc từ Qur'an al-karim. Ví dụ, đọc lời cầu nguyện Attahiyyatu thay vì Surah al-Fatiha, hoặc đọc Surah al-Fatiha khi bạn nên đọc Attahiyyatu. Trong trường hợp này, Fatiha bị bỏ qua. Thực hiện salam trước khi hoàn thành việc thực hiện lễ nguyện. Không đọc surah bổ sung trong các rak'at đầu tiên và thứ hai của lễ nguyện fard sau Surah al-Fatiha, đọc trong các rak'at thứ ba hoặc thứ tư. Không đọc surah bổ sung trong hai rak'at đầu tiên sau Surah al-Fatiha. Bỏ qua takbir của lễ nguyện Eid. Bỏ qua lời cầu nguyện Qunut trong lời cầu nguyện lễ nguyện witr.

Những sunnah của lễ nguyện

1- Giơ cả hai tay lên tai trong khi đọc takbir iftitah (nói Allahu akbar khi bắt đầu lễ nguyện). Phụ nữ giơ cao ngang vai.

2- Khi giơ tay lên, hãy xoay lòng bàn tay về phía qibla.

3- Tay phải nắm lấy cổ tay trái sau khi đọc takbir.

4- Tay phải đặt lên bên trên tay trái.

5- Nam giới để tay dưới rốn và đối với phụ nữ, đặt tay lên ngực.

6- Đọc “Subhanaka” sau takbir iftitah.

7- Đối với imam, hoặc một người thực hiện lễ nguyện riêng lẻ, hãy nói “A'udhu (A'udhu billahi minash-shaytanirrajim)”.

8- Nói “Basmala”.

9- Nói “Subhana Rabbiyal-'azim” ba lần trong ruku'.

10- Nói “Subhana Rabbiyal-a'la” ba lần trong sajda.

11- Đọc salawat “Allahumma salli...” và “Allahumma barik...” trong lần ngồi cuối cùng.

12- Quay đầu sang phải rồi sang trái, nhìn vào cuối vai, trong khi thực hiện salam (nói Assalamu 'alaikum wa rahmatullah) ở cuối lễ nguyện.

13- Ngoại trừ lễ nguyện Thứ Sáu và Eid, imam phải đọc một surah trong rak'at đầu tiên dài gấp đôi so với surah được đọc trong rak'at thứ hai.

14- Nói “Sami'Allahu liman hamidah” ​​trong khi đứng thẳng dậy sau ruku'.

15- Nói “Rabbana lakal hamd” khi đứng thẳng sau ruku’.

16- Trong sajda, giữ các ngón tay gần nhau (tức là không để khoảng trống giữa chúng) và uốn cong các ngón chân sao cho chúng hướng về qibla.

17- Nói “Allahu akbar” khi cúi chào ruku’ và sajdas và khi đứng thẳng dậy sau sajda.

18- Đặt tay và đầu gối xuống đất.

“ Tin mừng cho những ai thực hiện sự thờ phượng của mình với sự chân thành. Họ là những ngôi sao của sự hướng dẫn.
Họ xóa tan bóng tối do fitna gây ra. .”
Hadith ash-sharif

19- Giữ khoảng cách giữa hai gót chân bằng chiều rộng của bốn ngón tay trong lúc đứng (qiyam), nhưng khi cúi xuống trong ruku’, qawma và sajda thì hai chân phải được đặt sát nhau.

20- Nói "Amin" một cách thầm lặng sau khi đọc Fatiha, nói Allahu Akbar khi cúi người xuống trong ruku’, mở các ngón tay và nắm lấy đầu gối trong ruku’, nói Allahu Akbar khi cúi người xuống trong sajda, giữ bàn chân phải thẳng đứng khi ngồi lên chân trái, ngồi giữa hai lần sajda.

Trong salat buổi tối, các surah ngắn được đọc. Trong salat buổi sáng, surah trong rak’at đầu tiên dài hơn rak’at thứ hai.

Những người theo sau imam trong jama'at không đọc Fatiha và surah bổ sung. Họ đọc Subhanaka và takbir. Họ đọc tahiyyat và salawat ash-sharifas.

Các hành động mustahabb (được khuyến khích) trong salat:

1- Nhìn vào nơi sẽ đặt trán trong tư thế đứng (qiyam).

2- Nhìn vào bàn chân trong ruku’.

3- Trong tư thế sụp lạy (sajda), nhìn vào nơi sẽ đặt mũi.

4- Trong tư thế ngồi, nhìn vào đầu gối.

5- Các câu ayat bạn đọc sau Surah al-Fatiha nên dài trong buổi sáng và buổi chiều sớm, và ngắn trong buổi tối.

6- Những người theo imam nên nói takbir một cách gần như không nghe thấy.

7- Mở các ngón tay và đặt chúng lên đầu gối trong ruku’.

8- Giữ đầu và cổ thẳng hàng trong ruku’.

9- Đặt đầu gối phải xuống trước khi đầu gối trái khi quỳ xuống cho sajda.

10- Thực hiện sajda giữa hai bàn tay.

11- Trong sajda, đặt mũi xuống trước khi đặt trán.

12- Che miệng bằng phần ngoài của bàn tay trái khi ngáp trong salat.

13- Trong sajda, đàn ông giữ khuỷu tay cách xa sàn; phụ nữ đặt khuỷu tay lên sàn.

14- Đàn ông giữ cánh tay và đùi cách xa bụng trong sajda.

15- Đứng yên trong ruku’ và sajda đủ lâu để nói ba lần tasbih.

16- Nâng tay từ sajda sau khi nâng đầu.

17- Nâng đầu gối từ sajda sau khi nâng tay.

18- Trong tư thế ngồi, đặt tay lên đùi, với đầu ngón tay chạm vào mép đầu gối theo hướng thẳng về phía qibla; các ngón tay không nên cong hoặc di chuyển.

19- Khi chào salam sang bên phải và bên trái, quay đầu.

20- Khi chào salam sang bên phải và bên trái, nhìn vào đầu vai.​

Các hành động makruh (không được khuyến khích) trong salat:

1- Để áo khoác treo trên vai thay vì mặc đúng cách.

2- Khi sụp lạy (sajda), kéo lên các phần treo của trang phục hoặc quần.

3- Bắt đầu salat với các phần treo của trang phục hoặc tay áo (hoặc cổ tay) cuộn lên.

4- Các chuyển động không cần thiết.

5- Mặc quần áo làm việc (nếu chúng bẩn và dính dầu) hoặc quần áo bạn không thể mặc khi gặp cấp trên.

6- Có vật trong miệng không ngăn cản việc đọc đúng Qur’an al-Karim; nếu vật đó ngăn cản việc phát âm đúng, salat bị vô hiệu.

7- Thực hiện salat không đội mũ (đối với đàn ông).

8- Bắt đầu salat khi cần đi tiểu, đại tiện hoặc xì hơi.

9- Trong salat, quét đá hoặc đất ra khỏi nơi sụp lạy.

10- Khi bắt đầu salat hoặc trong salat, bẻ ngón tay.

11- Đặt tay lên hông trong salat.

12- Quay đầu (mặt) quanh và nhìn xung quanh bằng cách quay mắt; nếu bạn quay ngực ra khỏi qibla, salat bị vô hiệu.

13- Trong tashahhuds (tư thế ngồi và đọc các lời cầu nguyện trong salat), ngồi như chó (ngồi trên mông với đùi dựng đứng và đầu gối chạm ngực) là makruh.

14- Đàn ông để cẳng tay trên sàn.

15- Thực hiện salat hướng về mặt người hoặc về phía lưng của người đang nói to.

16- Gật đầu hoặc vẫy tay đáp lại lời chào của ai đó.

17- Ngáp ngoài salat cũng như trong salat.

18- Nhắm mắt trong khi thực hiện salat.

“ Nếu bạn không thể cúi xuống sàn, đừng nhấc vật gì đó lên gần mặt để thực hiện sajda trên đó!
Hãy thực hiện lễ nguyện bằng cách ima (ra hiệu bằng cử động), và khi sajda thì cúi thấp hơn so với lúc ruku (cúi mình).!” Hadith ash-sharif

19- Imam đứng trong mihrab. Vì các linh mục dẫn dắt người khác trong thờ cúng từ phòng khác. Mihrab là một hốc tường ở bức tường qibla của nhà thờ Hồi giáo. Không makruh cho imam thực hiện sajda trong mihrab nếu chân họ ở bên ngoài. Người ta cho rằng chân đặt ở nơi họ ngồi.

20- Makruh tanzihi (không được khuyến khích nhẹ) đối với imâm khi dẫn dắt salat một mình ở nơi cao hơn chỗ đứng của jama’at (cộng đồng) khoảng nửa mét.

21- Cũng là makruh nếu imam dẫn dắt salat một mình ở nơi thấp hơn vị trí của jama’at.

22- Thực hiện salat ở hàng sau trong khi còn chỗ trống ở hàng trước, hoặc thực hiện salat một mình ở hàng sau khi không còn chỗ ở hàng trước cũng là makruh.

23- Thực hiện lễ nguyện với trang phục có hình ảnh của các sinh vật sống hoặc các hình ảnh khác trên đó.

24- Nếu một bức tranh của một động vật được vẽ trên tường, trên vải hoặc giấy treo hoặc đặt trên tường ngay phía trên đầu, ở phía trước hoặc ngay bên phải hoặc bên trái của một người đang thực hiện lễ nguyện, thì đó là makruh. Một bức tranh về cây thánh giá giống như một bức tranh của một sinh vật sống.

25- Thực hiện nó về phía ngọn lửa đang cháy là makruh.

26- Đếm bằng tay các câu ayat hoặc tasbih mà bạn đọc trong lễ nguyện.

27- Thực hiện lễ nguyện bằng cách quấn mình trong một tấm vải từ đầu đến chân.

28- Thực hiện lễ nguyện bằng cách quấn khăn xếp quanh đầu, để trần đỉnh đầu.

29- Thực hiện lễ nguyện với miệng và mũi được che kín.

30- Ho ra đờm từ cổ họng mà không cần thiết.

31- Di chuyển một tay một hoặc hai lần là makruh.

32- Bỏ qua một trong những sunnah của lễ nguyện.

33- Không có darurat (lý do chính đáng), makruh là bắt đầu lễ nguyện với đứa con trên tay.

34- Trừ khi có darurat, thực hiện lễ nguyện mà đối diện với những thứ làm bạn không tập trung và ngăn cản khushu', chẳng hạn như đồ trang trí, trò chơi, nhạc cụ hoặc bất kỳ loại thực phẩm nào bạn thèm muốn là makruh.

35- Dựa vào tường hoặc cột khi thực hiện lễ nguyện fard nếu không có darurat để làm như vậy.

36- Giơ tay lên tai khi cúi chào ruku' hoặc khi đứng thẳng dậy sau ruku'.

37- Hoàn thành qiraat sau khi cúi chào ruku'.

38- Khi thực hiện sajda và ruku’, makruh là cúi đầu xuống hoặc ngẩng đầu lên trước khi imam làm như vậy.

39- Thực hiện lễ nguyện ở những nơi có khả năng là najs.

40- Thực hiện lễ nguyện đối diện với một ngôi mộ.

41- Không ngồi theo sunnah trong tashahhuds (tư thế ngồi) là makruh.

42-Trong rak’at thứ hai, đọc ba ayat dài hơn những gì đã nói trong rak’at đầu tiên là makruh.

43- Đọc cùng một surah mà bạn đã đọc trong rak’at đầu tiên, trong rak’at thứ hai hoặc đọc surah trước đó. Nếu bạn đọc nó mà không biết, thì đó không phải là makruh.

44- Bỏ qua một surah trong khi đọc.

Những điều là makruh bên ngoài lễ nguyện

1- Tahrimi makruh là quay mặt trước hoặc mặt sau về phía qibla khi phá vỡ việc thanh tẩy trong phòng vệ sinh hoặc nơi khác hoặc khi vệ sinh sau khi sử dụng nhà vệ sinh.

2- Phá vỡ việc thanh tẩy về phía mặt trời hoặc mặt trăng.

3- Khiến trẻ nhỏ tự giải tỏa bằng cách giữ trẻ theo một trong những hướng này là makruh đối với người lớn đang giữ trẻ. Tương tự như vậy, bắt trẻ nhỏ làm điều gì đó haram thì đó là haram đối với người lớn bắt trẻ làm điều đó.

4- Duỗi chân hoặc chỉ một chân về phía qibla mà không có lý do chính đáng.

5- Duỗi chân về phía mushaf (một cuốn sách về Kinh Qur'an al-karim có ghi chép) hoặc các sách Islam khác. Không phải là makruh nếu chúng ở cấp độ cao hơn.

Những điều làm vô hiệu một lễ nguyện

1- Nếu không có lý do chính đáng, ho qua cổ họng sẽ vô hiệu hóa lễ nguyện.

2- Lễ nguyện sẽ vô hiệu hóa nếu nói “Yerhamukallah” với một người hắt hơi và nói “Alhamdulillah”.

3- Nếu một người đang thực hiện lễ nguyện nghe thấy imam của một jama'at gần đó mắc lỗi khi đọc Kinh Qur'an al-karim và cảnh báo imam về lỗi này, lễ nguyện của người đó sẽ bị vô hiệu hóa. Nếu imam đọc Kinh Qur'an al-karim, tự sửa lỗi sau khi được người đó cảnh báo, lễ nguyện của imam cũng sẽ bị vô hiệu hóa.

4- Nếu một người nói “La ilaha illallah” trong khi thực hiện lễ nguyện, nếu ý định của anh ta là để đáp lại ai đó, lễ nguyện của anh ta sẽ bị vô hiệu hóa. Nếu ý định của anh ta là tuyên bố sự duy nhất của Allahu ta'ala, lễ nguyện của anh ta sẽ không bị vô hiệu hóa.

5- Để hở các phần awrat của một người.

6- Khóc vì những lý do như đau đớn hay buồn phiền sẽ làm mất hiệu lực của lễ nguyện. (Nếu bạn khóc vì nghĩ đến Thiên đàng và Địa ngục, lễ nguyện của bạn sẽ không bị mất hiệu lực.)

7- Đáp lại lời chào của ai đó, bằng bất kỳ cách nào, sẽ làm mất hiệu lực của lễ nguyện.

8- Nếu một người đã bỏ sót ít hơn năm lễ nguyện và nhớ rằng mình đã không thực hiện một lễ nguyện trước đó, thì lễ nguyện của người đó sẽ bị mất hiệu lực.

9- Nếu một người, trong khi thực hiện lễ nguyện, thực hiện một động tác hoặc hành động khiến bất kỳ người nào khác nhìn thấy anh ta nghĩ rằng anh ta không thực hiện lễ nguyện, thì lễ nguyện của anh ta sẽ bị mất hiệu lực.

10- Ăn hoặc uống trong khi thực hiện lễ nguyện.

11- Nói trong khi thực hiện lễ nguyện.

12- Sửa lỗi do bất kỳ ai ngoại trừ imam mà người đó theo sau mắc phải, sẽ làm mất hiệu lực của lễ nguyện (của người thực hiện sửa lỗi).

13- Cười trong khi thực hiện lễ nguyện.

14- Rên rỉ hoặc nói “ôi!” v.v., sẽ làm mất hiệu lực của lễ nguyện.

GIẢI THÍCH: Lễ nguyện được thực hiện trên ghế là không được chấp nhận

Thực hiện Lễ nguyện bằng cách ngồi hoặc Ima

Một người không thể đứng vì đau ở một trong các chi, hoặc có thể bị thương hoặc cảm thấy chóng mặt nếu đứng, sẽ thực hiện lễ nguyện fard trong khi ngồi. Người ấy cúi khi thực hiện nghi lễ ruku và đặt đầu xuống sàn khi thực hiện nghi lễ sajda. Đối với một người có thể đứng một lúc bằng cách dựa vào tường, gậy hoặc một người, thì việc đọc takbir (hoặc iftitah) trong khi đứng là điều rất quan trọng và phải đứng đủ lâu để làm điều đó. Người ta thường dựa vào một vật gì đó khi thực hiện điều bắt buộc mà không có lý do, lời bào chữa. Nếu có ‘udhr thì đó không phải là makruh. Không được phép thực hiện nghi lễ lễ nguyện trong khi nằm và làm ima nếu người đó có thể đứng bằng cách dựa vào vật gì đó hoặc ngồi. Nếu không thể ngồi đúng tư thế để cầu nguyện, anh ta có thể ngồi theo ý mình. Anh ấy có thể dựa vào gối hoặc vật gì đó khác.

Nếu một phụ nữ mang thai hoặc một người bệnh có thể đứng dậy bằng cách dựa vào chiếc ghế mà họ đặt ở bên trái hoặc bên phải, họ nên thực hiện cầu nguyện theo cách này.

Người bệnh không thể ngồi dậy trên sàn bằng cách dựa vào vật gì đó hoặc nhờ người khác đỡ thì phải thực hiện lễ nguyện khi nằm ngửa. Anh ta duỗi chân về phía Qibla. Ông ta kê một chiếc gối dưới đầu, do đó mặt anh ta hướng về qibla, hoặc anh ta nằm nghiêng về bên phải hoặc bên trái với phần trước cơ thể hướng về qibla. Anh ta ra dấu bằng đầu để ruku’ và sajda (đây được gọi là ima). Một người tỉnh táo nhưng bị bệnh, không thể thực hiện lễ nguyện ngay cả bằng ima trong hơn một ngày, thì không qada bất kỳ lần nào; cầu nguyện không phải là farrd đối với người như vậy. Tương tự như trường hợp của một người, do bệnh tật hoặc vì lý do không phải do bản thân gây ra, vẫn bất tỉnh hoặc không nhớ gì đến mức quên mất số sajda hoặc rak’at trong hơn năm lần lễ nguyện. Người nào bị bất tỉnh do uống rượu, dùng chất gây nghiện hoặc ma túy phải thực hiện tất cả những lời cầu nguyện mà mình chưa cầu nguyện.

Không được phép thực hiện nghi lễ lễ nguyện bằng cách ngồi trên vật cao như ghế với chân thõng xuống. Lời cầu nguyện đó không được chấp nhận. Bởi vì, không có trường hợp khẩn cấp nào khiến bạn phải ngồi trên ghế. Người nào có thể ngồi trên ghế thì cũng có thể ngồi trên sàn nhà; Vì vậy, người ấy phải thực hiện lễ nguyện khi ngồi trên sàn nhà.

Nếu một người không thể đứng dậy khỏi sàn nhà sau khi cầu nguyện, trong khi sẽ dễ dàng hơn nếu anh ta ngồi trên ghế, thì ai đó nên giúp anh ta đứng dậy. Hoặc, người bệnh có thể thực hiện lễ nguyện bằng cách ngồi trên ghế dài với hai chân hướng về qibla (cũng trên ghế dài) mà không thõng chân xuống. Sau khi cầu nguyện, anh ta có thể thả chân xuống một bên ghế và đứng lên như thể đang đứng trên ghế. Hoặc, anh ta có thể ngồi trên ghế nhưng lại gác chân lên một chiếc ghế khác hoặc một chiếc bàn thấp trước mặt. Sau khi cầu nguyện, họ có thể thả chân xuống khỏi ghế hoặc bàn.

Những điều cần chú ý khi thực hiện lễ nguyện bằng cách ngồi hoặc ima

Nếu một người có thể cúi xuống để cầu nguyện sajda, anh ta sẽ bắt đầu cầu nguyện khi đứng, đọc qiraat và cúi xuống để cầu nguyện ruku’. Nếu một người không thể đứng dậy được nữa, sẽ bắt đầu cầu nguyện bằng cách ngồi xuống. Ông ngồi trên đầu gối và phủ phục để cầu nguyện sajda. Thực hiện lễ nguyện theo cách này được gọi là thực hiện lễ nguyện bằng cách ngồi.

Khi thực hiện lễ nguyện bằng cách ngồi, người đàn ông đặt tay dưới rốn lên qiyam (phụ nữ nằm trên ngực). Nếu bắt đầu cầu nguyện khi đang đứng, anh ta sẽ đọc qamat khi đang đứng; nếu anh ta đang thực hiện lễ nguyện bằng cách ngồi hoặc ima, anh ta sẽ nói khi đang ngồi.

Nếu một người không thể thực hiện sajda, anh ta sẽ thực hiện lễ nguyện bằng ima. Nghĩa là, anh ta ngồi thoải mái trên đầu gối hoặc xếp bằng. Nếu anh ta không thể ngồi như vậy, anh ta sẽ duỗi chân về phía qibla.

Anh ta đọc takbir iftitah trong khi ngồi. Anh ta hơi cúi người một chút khi thực hiện ruku’ và hơi cúi người hơn một chút khi thực hiện sajda. Nếu một người không thể cúi người, anh ta cũng cúi đầu và thực hiện lễ nguyện bằng ima. Anh ta nhìn vào bàn chân của mình trong qiyam và nhìn vào đùi của mình trong tư thế ngồi.

Trong khi thực hiện lễ nguyện bằng ima, đàn ông chắp tay dưới rốn trong qiyam (phụ nữ đặt trên ngực). Lúc cúi người một chút để thực hiện ruku’, họ đặt tay lên đầu gối. Họ cúi người nhiều hơn một chút khi thực hiện sajda và giữ tay trên đầu gối hoặc đặt xa hơn một chút. Trong khi đọc Attahiyyatu, họ đặt tay như bình thường khi thực hiện lễ nguyện. Khi thực hiện salam, họ nhìn vào phần cuối của vai. Thực hiện lễ nguyện như thế này được gọi là thực hiện lễ nguyện bằng ima.

Không có thứ gì là ima với mắt. Nếu một người không thể cử động đầu trong một ngày (24 giờ), thì lễ nguyện không phải là điều bắt buộc đối với anh ta; anh ta không phải thực hiện qada.

Khi một người đang thực hiện lễ nguyện đứng với jama'at, điều quan trọng là vị trí của bàn chân. Nếu gót chân của một người vượt quá gót chân của imam, lễ nguyện của người đó sẽ không có hiệu lực. Tuy nhiên, quy tắc này không áp dụng khi một người đang thực hiện lễ nguyện bằng ima. Khi đó, điều quan trọng không phải là vị trí của gót chân mà là vị trí của đầu. Nếu đầu của người thực hiện lễ nguyện của ima không vượt quá đầu của imam hoặc nếu đầu của một người thẳng hàng với đầu của imam, thì lễ nguyện của người đó sẽ có hiệu lực, ngay cả khi chân của người đó vượt quá bàn chân của imam. [Ibn Abidin]

Người thực hiện lễ nguyện đứng có thể theo một imam đang ngồi, nhưng không phải là imam đang thực hiện lễ nguyện bằng ima.

Những ai yêu Ngài sẽ say đắm với tình yêu ấy, hỡi Rasulallah,
Họ sẽ đắm trong tình yêu ấy, để giải cơn khát, hỡi Rasulallah.
Người yêu Ngài đã hiến mình vào con đường của Ngài,
Mặt trời của hai cõi là Ngài, hỡi Rasulallah.
Với những ai yêu Ngài, hãy ban phước lành cho Ngài,
Sự sống trong cơ thể của người Muslim là Ngài, hỡi Rasulallah.
Tôi say mê vẻ đẹp đó, tôi là chim họa mi của bông hồng đó,
Những ai không yêu Ngài sẽ bị thiêu rụi trong lửa, hỡi Rasulallah.
Haqq là Đấng yêu Ngài, Sultan của tất cả,
Cầu mong cuộc đời tôi được hy sinh cho con đường của Ngài, hỡi Rasulallah.
Linh hồn của dervish Yunus, nguồn gốc của shafa’at,
Sultan của hai cõi là Ngài, hỡi Rasulallah

BỐ THÍ ZAKAT

“ Ngày ấy, Ta chỉ thương xót cho những ai vì sợ Ta mà kiềm chế không trở thành kẻ vô đức tin và không phạm tội, những người bố thí zakat và tin vào Qur'an al-karim và Nhà tiên tri của Ta ('alaihis-salam).” A’raf: 156

Điều cơ bản thứ ba trong Hồi giáo là trả zakat (thuế bắt buộc). Việc trả zakat đối với vàng, bạc và tài sản thương mại yêu cầu tài sản đó phải đạt đến một lượng được gọi là nisab. Nisab nghĩa là ranh giới giữa sự giàu và nghèo.

Mức nisab đối với vàng là 96 gam. Đối với bạc là 672 gam.
Người nào sở hữu lượng tài sản bằng hoặc vượt quá mức nisab (ngoài các nhu cầu thiết yếu) thì được coi là người giàu. Người không có đủ mức này là người nghèo.

Nếu tổng trọng lượng vàng của bạn bao gồm tiền vàng, trang sức, răng bọc vàng, cùng mọi loại tài sản thương mại là 96 gam trở lên, hoặc nếu bạn có 672 gam bạc, và bạn vẫn giữ chúng sau một năm theo lịch Hijri (354 ngày), bạn sẽ phải trích ra 1 phần 40 (2,5%) tổng trọng lượng đó và đưa cho một hoặc vài nhóm người được nêu trong Qur’an al-karim. Khoản đóng góp này gọi là zakat. Vì vậy, nếu bạn sở hữu 100 gam vàng, và vẫn còn đủ vào năm sau, bạn sẽ trích 2,5 gam vàng để làm zakat và trao cho một người nghèo mà bạn lựa chọn.

Zakat được trao cho người nghèo không có đủ mức nisab để thực hiện qurban (lễ tế), người Hồi giáo mắc nợ, người giàu ở quê nhà nhưng nghèo nơi họ đang ở, người gặp khó khăn trên đường jihad hoặc hajj (hành hương).

Người được xem là nghèo nếu không sở hữu mức tối thiểu của nisab qurban. Dù thu nhập có cao, nếu không đủ khả năng nuôi sống gia đình, họ có thể nhận zakat, và không bắt buộc phải làm qurban hay đóng fitra, người học và dạy kiến thức tôn giáo cũng có thể nhận zakat, ngay cả khi họ có đủ sinh kế trong 40 năm. Không được dùng zakat để Xây nhà thờ (masjid), tham gia chiến tranh thánh (jihad). Người giàu không được trao zakat cho cha mẹ, ông bà, con cái, cháu chắt, vợ/chồng, người không theo đạo Hồi. Zakat có thể trao cho con dâu, con rể, chị em ruột, anh em cô, chú, bác, cha chồng, mẹ chồng, con riêng (nếu họ nghèo). Trao zakat cho những người thân như vậy còn có nhiều phúc hơn. Không nên đưa zakat vượt quá mức nisab cho một người. Tuy nhiên, nếu họ có con, zakat có thể chia ra để mỗi người nhận dưới mức nisab. Không được đưa zakat cho người phung phí hoặc tiêu xài vào việc haram (bị cấm). Trước đây, zakat không được trao cho sayyid (hậu duệ của Đức Tiên tri Muhammad).
Ngày nay, do họ không còn nhận được phần chiến lợi phẩm, nên được phép trao zakat cho họ.

Đừng tự mãn về những mình có, đừng hỏi rằng có ai giống tôi?
Chỉ một cơn gió thôi sẽ làm tan biến đi tất cả!
Có bốn loại tài sản zakat:

1- Vàng và bạc.

2- Tất cả các loại tài sản được mua cho mục đích thương mại.

3- Haidruped gặm cỏ trên đồng ruộng và đồng cỏ chăn thả.

4- ‘Ushr, tức là zakat được trả từ mùa màng.

Abu Hanifa (rahimahullahu ta’ala) đã nói, “Ngay khi bạn thu hoạch một vụ mùa (hoặc trái cây, rau, mật ong) từ một mảnh đất được tưới bằng mưa và suối, thì sẽ là điều bắt buộc nếu bạn đưa một phần mười thu nhập cho người nghèo. Điều này được gọi là ’ushr. Việc tiêu thụ mùa màng mà không đưa ’ushr của nó là haram.”

Nếu nisab của hàng hóa thương mại có giá trị 96 gram vàng, thì một phần bốn mươi giá mua sẽ được đưa ra dưới dạng vàng. Hoặc một phần bốn mươi của hàng hóa thương mại được đưa ra. Nếu một người có tiền nợ và có hóa đơn, anh ta phải đưa zakat từ những gì anh ta có trong tay. Hàng hóa phải được chuyển đến tay người nghèo.

Tiền nisab chỉ được tính bằng vàng, và một phần tư trong số đó được đưa ra dưới dạng vàng.

Các điều kiện để zakat trở thành điều bắt buộc có sáu: 1- Là người Muslim. 2- Đã đến tuổi dậy thì. 3- Có đầu óc minh mẫn. 4- Được tự do (không phải là nô lệ). 5- Có zakat halal tài sản có giá trị bằng nisab. 6- Đối với tài sản, phải nhiều hơn mức cần thiết cho các nhu cầu thiết yếu.

Sau khi zakat trở thành điều bắt buộc đối với một người, nếu anh ta không đưa zakat của mình cho người nghèo hoặc nếu anh ta có các khoản nợ khác, anh ta sẽ không nhận được phần thưởng từ các tổ chức từ thiện và sadaqas của mình. Anh ta phải đưa zakat của mình và trả nợ.

“ Khi tháng chay Ramadan đến, cánh cổng Thiên đàng mở ra, cánh cổng Địa ngục đóng lại và các shaytan bị trói chặt.” Hadith ash-sharif

Tháng chay Ramadan rồi cũng đã đến,
Các thánh đường Islam được sơn màu nur.
Đã đến thời điểm, những ngọn nến được thắp lên,
Trong mỗi chúng ta sẽ tin những điều này,
Tràn ngập lòng trắc ẩn trong mười ngày đầu tiên,
Thế rồi, mọi lỗi lầm sẽ được tha thứ,
Từ Địa ngục, trong đêm Eid,
Tất cả người Muslim đều được giải thoát.
Huynh đệ của tôi ơi, anh cũng phải ăn chay,
Hãy thực hành lễ lễ nguyện của mình!
Nhớ rằng luôn tránh xa tội lỗi,
Địa ngục với nhiều nỗi đoạ đày!
Bọn xâu đang tấn công anh em ta,
Nói rằng ăn chay làm anh yếu đi.
Chúng là những kẻ chà đạp khoa học,
Chúng luôn dối trá, những kẻ xấu xa ấy!
Hãy thức dậy! Hầu hết cuộc đời anh đã qua rồi,,
Ăn chay, thấu hiểu khi no và khi đói!
Đọc một số sách về Islam,
Nếm thử mùi vị của lòng tốt!

NHỊN CHAY

Nguyên tắc cơ bản thứ tư của Islam là nhịn ăn mỗi ngày trong tháng Ramadan. Ramadan nghĩa là đốt cháy. Vì tội lỗi của người nhịn ăn và ăn năn trong tháng này sẽ bị đốt cháy và biến mất.

Rasulullah (sallallahu ‘alaihi wa sallam) đã nói, “Khi tháng Ramadan đến, các cánh cổng của Thiên đàng được mở ra, các cánh cổng của Địa ngục được đóng lại và các shaytan bị trói buộc.”

Một hadith ash-sharif trong Sahih al-Bukhari tuyên bố, “Nếu một người chấp nhận việc nhịn ăn trong tháng Ramadan như điều bắt buộc, như một nghĩa vụ và mong đợi phần thưởng của việc nhịn ăn từ Allahu ta’ala, thì tội lỗi trong quá khứ của người đó sẽ được tha thứ.” Điều đó có nghĩa là, cần phải tin rằng việc nhịn ăn là lệnh của Allah và mong đợi phần thưởng cho việc đó. Một điều kiện là không được phàn nàn rằng những ngày dài hoặc việc nhịn ăn khó khăn. Người ta nên coi việc nhịn ăn một cách khó khăn là một điều may mắn và may mắn lớn đối với những người không nhịn ăn.

Có bảy điều kiện để việc nhịn ăn trở thành điều bắt buộc đối với một người:

1- Là người Muslim. 2- Đã đến tuổi dậy thì. Việc nhịn ăn của trẻ em là sahih (được chấp nhận). 3- Có đầu óc minh mẫn. 4- Đối với những người ở dar al-harb (một đất nước của những người vô tín), phải nghe nói rằng việc nhịn ăn là điều bắt buộc. 5- Là muqim (ổn định, không đi du lịch). 6- Đối với phụ nữ, không có kinh nguyệt. 7- Không có nifas (phụ sản).

Các điều bắt buộc của việc nhịn ăn

Việc nhịn ăn (sawm) có ba điều bắt buộc (fard):

1- Niyyat – Có ý định (trong lòng).

2- Thực hiện niyyat trong thời gian được phép để làm niyyat.

3- Kiêng tất cả những điều làm hỏng việc nhịn ăn, từ lúc rạng đông thật sự (fajr as-sadiq) cho đến mặt trời lặn, tức là trong suốt một ngày hợp pháp (ngày shar’i) trong đạo Hồi. Các học giả của bốn madhhab đều nhất trí rằng việc nhịn ăn bắt đầu khi xuất hiện ánh sáng trắng đầu tiên ở chân trời phía Đông, được gọi là fajr as-sadiq. Trong sách Multaqa có ghi: “Nhịn ăn là không ăn, không uống, không quan hệ tình dục từ lúc rạng đông đến lúc mặt trời lặn.” Ngoài ra, còn bắt buộc phải có niyyat trong lòng, trong khoảng thời gian từ lúc mặt trời lặn ngày hôm trước cho đến thời điểm dahwa al-kubra8 (khoảng giữa buổi trưa) trong ngày bạn sẽ nhịn ăn trong tháng Ramadan. Nếu cho đến dahwa bạn vẫn chưa ăn uống gì, bạn có thể làm niyyat và tiếp tục nhịn ăn. Sau thời điểm dahwa, nếu mới làm niyyat thì không hợp lệ. Khi làm niyyat trước rạng đông, bạn nói: “Tôi đã làm niyyat nhịn ăn vào ngày mai.” Khi làm niyyat sau rạng đông, bạn nói: “Tôi đã làm niyyat nhịn ăn hôm nay.” Thời gian làm niyyat như trên cũng áp dụng cho: Nhịn ăn do khấn hứa vào một ngày nhất định Nhịn ăn sunnah (tự nguyện). Phải làm niyyat riêng cho từng ngày nhịn ăn.

Điều gì phá vỡ sự nhịn ăn

Trong tháng Ramadan, nếu một người biết mình đang nhịn ăn và đã có ý định nhịn ăn trước khi bình minh của ngày hôm trước, việc ăn uống hoặc quan hệ tình dục sẽ làm hỏng việc nhịn ăn và cần phải thực hiện cả qada (bù lại) và kaffarah (đền tội). Theo định nghĩa này, việc hút thuốc lá cũng làm hỏng việc nhịn ăn và cần phải thực hiện cả qada và kaffarah. Bởi vì các hạt rắn và lỏng trong khói thuốc đi vào dạ dày cùng với nước bọt.​ Sau những hành động như hút thuốc, nếu một người ăn uống một cách có ý thức vì nghĩ rằng việc nhịn ăn của mình đã bị hỏng, việc này sẽ làm hỏng việc nhịn ăn lần này và cần phải thực hiện cả qada và kaffarah9.​ Nếu một người không có ý định nhịn ăn trước bình minh trong tháng Ramadan và làm điều gì đó để làm hỏng việc nhịn ăn trước thời gian dahwa (khoảng 15 phút trước khi mặt trời mọc), cả qada và kaffarah là cần thiết theo hai imam. Vì họ đã bỏ lỡ cơ hội để có ý định và nhịn ăn khi còn có thể. Nhưng theo Imam al-A’zam, chỉ cần thực hiện qada.​ Nếu một người ăn uống sau thời gian dahwa, kaffarah không cần thiết theo tất cả ba imam. Hình phạt kaffarah là sự đền bù cho việc làm ô uế danh dự và phẩm giá của tháng Ramadan. Đó là hình phạt cho việc cố ý làm hỏng việc nhịn ăn trong tháng Ramadan, điều này là sai theo tất cả bốn madhhab.​ Vì lý do này, việc bắt buộc phải có ý định trước bình minh trong madhhab Shafi’i, nếu một người trong madhhab Hanafi cố ý làm hỏng việc nhịn ăn trong ngày mà họ không có ý định trước bình minh, hoặc nếu họ bị ép buộc phải làm hỏng hoặc phải làm hỏng vì lý do chính đáng, họ không cần phải thực hiện kaffarah theo Imam al-A’zam.​ Khi một người làm hỏng việc nhịn ăn của mình bằng cách thực hiện qada hoặc nhịn ăn đã hứa hoặc nhịn ăn tự nguyện, họ không cần phải thực hiện kaffarah.​ Nếu một người làm điều gì đó chỉ cần thực hiện qada trong một ngày của tháng Ramadan và làm điều tương tự một cách cố ý vào một ngày khác, họ cũng cần phải thực hiện kaffarah.​

Nếu một người làm hỏng việc nhịn ăn của mình do sai lầm, ví dụ như nếu một ít nước trôi xuống cổ họng trong khi thực hiện abdast, nếu họ bị ép buộc phải làm hỏng việc nhịn ăn, nếu họ tiêm thuốc, nếu họ hít thuốc, thuốc xịt, khói (khói thuốc lá do người khác hút), hoặc khói trầm hương được hun khói bằng hổ phách vào mũi, nếu thuốc nhỏ vào tai, nếu thuốc bôi lên vết mụn trên da thấm vào, (nếu họ tiêm thuốc bằng kim tiêm), nếu họ nuốt thứ gì đó không phải thuốc hoặc dinh dưỡng, như một miếng giấy, đá, kim loại, bông hoặc hạt gạo sống, kê hoặc đậu lăng, nếu họ nôn một ngụm bằng cách tự ép mình, nếu họ nuốt máu từ một chiếc răng chảy máu hoặc máu trộn với nước bọt, nếu họ ăn mà không biết rằng bình minh đã đến hoặc làm hỏng việc nhịn ăn vì nghĩ rằng mặt trời đã lặn, nếu họ tiếp tục ăn vì nghĩ rằng việc nhịn ăn của mình đã bị hỏng do quên, nếu họ uống nước vào miệng hoặc quan hệ tình dục khi đang ngủ, nếu họ nhịn ăn mà không có ý định hoặc không có ý định trước bình minh trong tháng Ramadan và sau đó không nhịn ăn sau thời gian dahwa mặc dù họ đã có ý định sau bình minh; trong bất kỳ trường hợp nào này, việc nhịn ăn bị hỏng và chỉ cần thực hiện qada sau lễ Eid. Tuy nhiên, kaffarah không cần thiết.​

Nếu mưa hoặc tuyết trôi xuống cổ họng, nó làm hỏng cả việc nhịn ăn và cầu nguyện. Cần phải thực hiện qada.​ Nếu một người trở nên junub (bị ô uế lớn) do ôm, hôn, việc này làm hỏng việc nhịn ăn và cần phải thực hiện qada. Tuy nhiên, nếu không trở nên junub, việc nhịn ăn không bị hỏng.​ Nếu một người nuốt thứ gì đó còn sót lại giữa răng từ đêm trước, việc này làm hỏng việc nhịn ăn nếu nó lớn bằng hạt đậu xanh, và cần phải thực hiện qada. Tuy nhiên, nếu nó nhỏ hơn hạt đậu xanh, việc nhịn ăn không bị hỏng.​ Nếu một người quên việc nhịn ăn và ăn uống gì đó, sau đó nhớ rằng mình đang nhịn ăn mặc dù biết rằng việc quên và ăn uống sẽ không làm hỏng việc nhịn ăn, việc nhịn ăn của họ bị hỏng và cần phải thực hiện cả qada và kaffarah.​

Trong sách Multaqa và tất cả các sách khác có viết rằng, “Nếu thuốc bôi lên vết mụn trên đầu hoặc cơ thể thấm vào não hoặc ống tiêu hóa, việc nhịn ăn bị hỏng và chỉ cần thực hiện qada.” Trong chú giải của Multaqa, Imam al-A’zam nói rằng việc nhịn ăn bị hỏng khi thức ăn thấm qua vết mụn. Nhưng hai imam khác nói rằng việc này không làm hỏng vì việc nhịn ăn chỉ bị hỏng khi thức ăn đi vào qua các lỗ tự nhiên trên cơ thể. Tahtawi giải thích rất rõ điều này trong chú giải của ông đối với cuốn Maraq al-Falah. Ông nói: “Nếu biết chắc chắn rằng thuốc (dạng lỏng hoặc rắn) được bôi lên vết mụn trên đầu hoặc cơ thể đã thấm vào não hoặc ống tiêu hóa, thì việc nhịn ăn bị phá vỡ. Nếu không biết chắc chắn rằng thuốc đã thấm vào, thì nếu đó là thuốc dạng lỏng, việc nhịn ăn bị phá vỡ theo ý kiến của Imam al-A‘zam. Nhưng hai vị imam còn lại cho rằng việc nhịn ăn không bị phá vỡ nếu không chắc chắn rằng thuốc đã thấm vào. Cả ba vị imam đều đồng ý rằng việc nhịn ăn sẽ không bị phá vỡ nếu thuốc là dạng rắn mà không biết chắc chắn rằng nó đã thấm vào.” Vì vậy, cả ba vị imam đều đồng thuận rằng việc nhịn ăn bị phá vỡ khi biết chắc chắn rằng thuốc đã thấm vào trong người, bất kể thuốc đó là dạng lỏng hay rắn. Điều này có nghĩa là bất kỳ hình thức tiêm chủng hoặc tiêm thuốc y tế nào bằng ống tiêm dưới da hoặc vào cơ bắp ở tay, chân, hay bất kỳ bộ phận nào khác trên cơ thể đều làm phá vỡ việc nhịn ăn.

Những gì không phá vỡ việc nhịn ăn

Trong tháng Ramadan ash-sharif, hoặc khi nhịn ăn để bồi hoàn (qada), đền tội (kaffarat), hoặc thực hiện lời thề (vowed) hoặc ăn chay tự nguyện (supererogatory fast), nếu một người quên mình đang nhịn ăn và ăn uống, quan hệ tình dục, hoặc xuất tinh trong khi ngủ, hoặc xuất tinh không tự nguyện khi thức, nếu người đó bôi dung dịch i-ốt, thuốc mỡ hoặc bột kohl (dù có nhận thấy mùi hoặc màu của chúng trong nước bọt hoặc nước tiểu), hoặc hôn một cách dâm dục, nói xấu, hút máu, nôn một ngụm không tự nguyện hoặc nôn một ít một cách tự nguyện, hoặc nếu nước vào tai, bụi, khói hoặc ruồi vào cổ họng qua miệng hoặc mũi một cách không tự nguyện, (hoặc nếu người đó được cung cấp không khí nhân tạo qua ống oxy, hoặc không thể ngăn khói thuốc lá của người khác vào miệng và mũi), hoặc nếu sau khi súc miệng, người đó nuốt nước còn lại trong miệng cùng với nước bọt, hoặc nếu người đó nhỏ thuốc vào mắt hoặc khoang răng dù cảm nhận được vị của thuốc trong cổ họng; thì trong tất cả các trường hợp này, việc nhịn ăn không bị phá vỡ.​

Tác giả của cuốn sách Bahr-ur-raiq (rahmatullahi ta’ala ’alaih) nói: “Trong một số trường hợp, miệng được coi là một phần bên trong cơ thể. Do đó, nếu người nhịn ăn nuốt nước bọt của mình, việc nhịn ăn sẽ không bị phá vỡ. Điều này giống như việc có thứ gì đó bẩn trong cơ thể đi từ dạ dày đến ruột. Chảy máu do chấn thương trong miệng, do nhổ răng, hoặc tại điểm tiêm, hoặc máu từ dạ dày chảy lên miệng không làm phá vỡ việc nhịn ăn hoặc tẩy uế. Khi người ta nhổ hoặc nuốt máu này, nếu nước bọt nhiều hơn máu, tức là nếu có màu vàng, thì việc nhịn ăn vẫn không bị phá vỡ. Điều này cũng áp dụng khi các chất khác từ dạ dày vào miệng, trong trường hợp này, việc nhịn ăn và tẩy uế đều không bị phá vỡ. Nếu một ngụm (vào miệng và) ra khỏi miệng, cả hai đều bị phá vỡ. Đôi khi, bên trong miệng được coi là phần bên ngoài cơ thể. Việc nhịn ăn không bị phá vỡ khi nước vào miệng.” Điều tương tự cũng được ghi nhận trong Jawhara. Do đó, khi nhổ răng, nếu có nhiều máu, việc nhịn ăn không bị phá vỡ khi nhổ ra. Khi không nhịn ăn, việc tẩy uế không bị phá vỡ khi nuốt máu. Cả hai đều không bị phá vỡ trong mọi trường hợp nếu máu ít hơn lượng nước bọt.​

Trong Fatawayi Hindiyya, có ghi: “Việc tiêm thuốc (thụt thuốc) hoặc nhỏ thuốc vào lỗ tai sẽ làm phá vỡ việc nhịn ăn, nhưng không cần phải đền tội. Tiêm nước hoặc dầu vào dương vật sẽ không làm phá vỡ việc nhịn ăn dù chất lỏng có vào bàng quang. Tuy nhiên, việc tiêm chất lỏng vào âm đạo nữ sẽ làm phá vỡ việc nhịn ăn của phụ nữ. Việc đưa ngón tay ướt hoặc có thuốc mỡ vào trực tràng hoặc âm đạo sẽ làm phá vỡ việc nhịn ăn. Ngón tay khô (đưa vào trực tràng hoặc âm đạo) sẽ không làm phá vỡ việc nhịn ăn. Nước mà vô tình vào trực tràng khi làm sạch sau khi đại tiện sẽ làm phá vỡ việc nhịn ăn.”

Những hành động như nếm thức ăn (trong khi chuẩn bị) mà không nuốt, nhai kẹo cao su, ôm và hôn mặc dù có nguy cơ trở thành người có trạng thái “junub”, tắm để thư giãn sẽ không làm hỏng việc nhịn ăn của bạn, nhưng chúng là hành động tán dương makruh. Việc thoa kohl hoặc bôi dầu lên ria mép, ngửi hoa, nhang hoặc kem dưỡng da sẽ không làm hỏng việc nhịn ăn; chúng cũng không phải là makruh. Tuy nhiên, việc thoa kohl (trên mắt) và bôi dầu (lên ria mép) là makruh khi chúng được dùng với mục đích trang trí; và điều này cũng áp dụng với hoa cài trên cổ áo hoặc cầm trên tay. Việc ngửi những thứ có bụi hoặc khói hoặc nhai kẹo cao su nhân tạo sẽ làm hỏng việc nhịn ăn. Việc sử dụng (cây chải răng gọi là) miswak hoặc xả máu không phải là makruh.​

Nếu một người cố ý làm hỏng việc nhịn ăn của mình (trước khi mặt trời lặn) mà người đó đã có ý định nhịn ăn trước thời gian imsak, người đó sẽ phải thực hiện cả kaffarat và qada. Việc làm hỏng một ngày nhịn ăn tự nguyện hoặc nhịn ăn qada không yêu cầu kaffarat.​

“Nhịn ăn là một tấm khiên bảo vệ người Hồi giáo khỏi Jahannam.” Hadith ash-sharif​

Để chuộc lỗi (kaffarat), người ta sẽ nhịn ăn trong suốt sáu mươi ngày liên tiếp, không tính các ngày trong tháng Ramadan và năm ngày mà việc nhịn ăn là haram. Ngoài ra, người ta còn phải nhịn ăn với ý định qada (bù lại) số ngày mà mình đã bỏ lỡ (hoặc phá vỡ) việc nhịn ăn. (Việc nhịn ăn vào ngày đầu tiên của Eid Ramadan hoặc vào bất kỳ một trong bốn ngày của Eid Qurban là haram.) Người không thể thực hiện việc này thì có thể giúp đỡ sáu mươi người nghèo bằng cách cho họ ăn hai bữa mỗi ngày trong một ngày, hoặc cho một người nghèo ăn hai bữa mỗi ngày trong sáu mươi ngày. Hoặc, người đó có thể cho mỗi người một khoản tiền có giá trị tương đương với số tiền được đóng cho fitra.

“Nhịn chay là tấm khiên bảo vệ người Muslim khỏi Địa ngục .”
Hadith ash-sharif

Để thực hiện qada cho một ngày nhịn ăn, bạn nhịn ăn một ngày.​

Một loại nhịn ăn mà không bao giờ được phép là loại nhịn ăn được thực hiện với ý định như sau: “Tôi có ý định nhịn ăn nếu tháng (chúng ta đang ở) là Ramadan; nếu không, tôi không có ý định.”​

Những người bắt đầu nhịn ăn cho Ramadan không phải sau khi nhìn thấy trăng mới trên bầu trời mà theo hướng dẫn của các lịch đã chuẩn bị trước sẽ phải nhịn ăn hai ngày với ý định qada sau Eid Ramadan. Cách tính ngày đầu tiên của Ramadan được giải thích chi tiết trong chương mười của phần thứ tư của Endless Bliss.​

Ibn Abidin (rahima-hullahu ta’ala) nói: “Trong thời tiết nhiều mây, không nên làm iftar (không nên phá vỡ việc nhịn ăn) trừ khi người ta chắc chắn rằng Mặt Trời đã lặn, ngay cả khi azan (để thông báo thời gian cầu nguyện buổi tối [và thời gian iftar]) đã được thực hiện (gọi). Miễn là người ta làm iftar trước (thời gian gọi) ishtibak an-nujûm, tức là trước khi hầu hết các ngôi sao xuất hiện trên bầu trời, người ta đã thực hiện hành động mustahab gọi là ‘ta’jil’ (nghĩa là vội vã cho iftar). Khi mặt trời lặn được quan sát, và iftar được thực hiện tại một địa điểm nhất định, một người ở nơi cao, ví dụ như người ở trên tháp minaret, không nên làm iftar trừ khi người ta biết rằng Mặt Trời đã lặn. Quy tắc này cũng áp dụng cho cầu nguyện buổi sáng và sahur.”

Hỡi tiên tri cao nhất của các tiên tri,
Hỡi người chỉ lối cho walis này,
Hỡi Vị tiên tri của toàn vũ trụ,
Ahlan wa sahlan merhaba.
Ngài là linh hồn của tất cả linh hồn,
Ngài là mệnh lệnh của trái tim,
Quốc vương của hai thế giới,
Ahlan wa sahlan merhaba.
Ngài là người yêu quý của Haqq,
Đừng cho chúng tôi ra khỏi shafa’at,
Ahmad Muhammad Mustafa,
Ahlan wa sahlan merhaba.
Yunus nói lời chân thật,
Ngài cúi đầu trên cửa nhà người,
Ngài chờ đợi chúng tôi vào ngày mahshar,
Ahlan wa sahlan merhaba.

THỰC HIỆN HAJJ

Nguyên tắc cơ bản thứ năm của Islam là thực hiện hajj (cuộc hành hương lớn). Đối với một người có khả năng, nếu họ có đủ tiền để đi đến và trở về từ thành phố Mecca, ngoài tài sản đủ để nuôi sống gia đình mà họ để lại cho đến khi họ quay về, thì việc thực hiện tawaf (đi vòng quanh Ka’ba) và thực hiện waqfa (dừng lại cầu nguyện) trên đồng bằng Arafat là fard (bắt buộc) một lần trong đời, với điều kiện con đường an toàn và cơ thể khỏe mạnh.

Các điều kiện để Hajj được coi là điều bắt buộc

Có tám điều kiện cần được đáp ứng để việc hành hương (hajj) trở thành nghĩa vụ (fard) đối với một người: 1- Là người Hồi giáo. 2- Đã đến tuổi dậy thì. 3- Có tâm trí minh mẫn. 4- Có sức khỏe. 5- Không phải là nô lệ. 6- Có tài sản vượt quá nhu cầu thiết yếu của bản thân. 7- Đến đúng thời gian hành hương. Thời gian hành hương là ngày Arafah và bốn ngày Eid al-Adha (Lễ Hiến Tế). Thời gian đi đường cũng được tính vào thời gian hành hương. 8- Đối với phụ nữ, nếu khoảng cách từ nơi ở đến Mecca đủ xa để được coi là một hành trình dài (safar) – tức là quãng đường đi bộ trong ba ngày, khoảng 104 km theo madhhab Hanafi – thì phải có chồng hoặc một người thân nam là mahram (người không thể kết hôn với cô ấy vĩnh viễn theo luật Hồi giáo) đi cùng.

Điều bắt buộc là những người đáp ứng tám điều kiện này để thực hiện hajj một lần trong đời. Nếu họ thực hiện hajj nhiều hơn một lần, hajj mà họ thực hiện trong những năm sau đó là nafila hajj. Một hành động thờ phượng là nafila được thực hiện theo ý muốn của chính mình, mặc dù nó không phải là fard hay sunnah (để thực hiện nó). Phần thưởng cho nafila ibadat, khi so sánh với phần thưởng cho sự thờ phượng fard, thì cũng chỉ là một giọt nước so với nước trong đại dương. Các học giả Islam đã không chấp thuận việc người Muslim sống ở những nơi xa Mecca thực hiện hajj lần thứ hai. Abdullah al-Dahlawi (quddisa sirruh) tuyên bố như sau trong lá thư thứ 63 (trong cuốn sách có giá trị của ông có tựa đề Makatib ash-sharifa), “Trong hành trình thực hiện hajj, hầu như không thể thực hiện sự thờ phượng đúng cách. Về vấn đề đó, Imam Rabbani (rahmatullahi 'alaih) tuyên bố trong phần thứ 123 và 124 của mình (trong tập đầu tiên của tác phẩm được ban phước của ông có tựa đề Maktubat) rằng ông không chấp thuận việc đi (trên một chuyến đi) với mục đích thực hiện 'umra hoặc nafila hajj. “Nafila hajj là haram nếu nó ngăn cản việc thực hiện sự thờ phượng hoặc che phủ bản thân đúng cách của một người phụ nữ. Việc thực hiện một nafila hajj theo kiểu này sẽ dẫn đến tội lỗi thay vì thực hiện phần thưởng. Tương tự như vậy với việc thực hiện một chuyến đi để thực hiện 'umra.

“ Hajj al-mabrur là hình thức hành hương có giá trị nhất trong các việc thờ phượng. Tội lỗi của người thực hiện Hajj al-mabrur sẽ được tha thứ. Người đó sẽ trở nên như một đứa trẻ mới sinh.”
Hadith ash-sharif

Fard của hajj

Hajj có ba điều bắt buộc:

1– Làm niyyat cho hajj khi bạn mặc (trang phục đặc biệt gọi là) ihram.

2– Thực hiện (đứng yên gọi là) waqfa trên (đồi gọi là) Arafat.

3– Thực hiện tawaf al-ziyarat (tại Ka’ba).

Điều bắt buộc là niyyat để mặc ihram cho hajj. Sunna là mặc mảnh vải gọi là ihram. Wajib là tránh mặc quần áo may sẵn.

Thời gian sớm nhất để thực hiện waqfa tại Arafat là từ sau giờ zawal (giữa trưa) vào ngày mồng 9 tháng Dhu’l-Hijja cho đến sáng hôm sau. (Nếu bạn thực hiện waqfa sớm hơn một ngày hoặc muộn hơn một ngày, lễ hành hương (hajj) mà bạn thực hiện sẽ trở nên bất hợp lệ [batil]. Người Wahhabi tổ chức lễ Eid al-Adha sớm hơn một ngày mà không nhìn thấy trăng non [vào tối hôm trước]. Hajj được thực hiện bởi những người không đứng waqfa trong thời gian quy định sẽ không hợp lệ [sahih].)

LÀ NGÀI, HỠI RASULALLAH

Người dẫn đường của tất cả các tiên tri,
Là Ngài, hỡi Rasulallah.
Trăng tròn trên bầu trời,
Là Ngài, hỡi Rasulallah.
Nurr của Ngài là ánh sáng rực rỡ nhất,
Toàn bộ sự tồn tại cần Ngài,
Chủ nhân của vương miện Mi'raj,
Là Ngài, hỡi Rasulallah.
Tấm gương của Rahman,
Nur tinh khiết của Subhan,
Bí mật của Fatiha,
Là Ngài, hỡi Rasulallah.
Bằng chứng của Ngài về Mi'raj là,
Subhanallazi asra,
Người đã tập hợp tên của Haqq,
Là Ngài, hỡi Rasulallah.
Hỡi nguồn hào phóng và lòng tốt,
Maqam al-Mahmud, là nơi của Ngài,
Lý do cho mọi sáng tạo,
Là Ngài, hỡi Rasulallah.
Người đáng kính nhất trong tất cả sinh vật,
Là nguồn gốc của khôn ngoan và hiểu biết,
Là cha tôi, chủ nhân và quốc vương,
Là ngài, hỡi Rasulullah.
Ngài đã mở ra con đường của tawhid,
Ngài đã tìm ra bí mật của tafrid,
Ngài là hy vọng của Hudayi,
Là ngài, hỡi Rasulullah.
Aziz Mahmud Hudayi

THỰC HIỆN QURBAN

Qurban có nghĩa là giết mổ một con cừu, dê, gia súc (bò, bò cái, bò đực) hoặc lạc đà trong ba ngày đầu tiên của lễ Eid al-Adha (lễ Hiến sinh) với ý định qurban (hiến tế). Có ba điều kiện để việc hiến tế qurban trở thành bắt buộc (wajib):

1- Là người Hồi giáo trưởng thành (baligh), có đầu óc minh mẫn và tự do (không phải nô lệ). 2- Phải là người cư trú ổn định (muqīm), không phải người đi đường xa (safari). 3- Sở hữu tài sản vượt quá nhu cầu thiết yếu, đạt mức nisab (96 gram vàng hoặc tương đương). Điều này khiến người đó được xem là giàu có theo Hồi giáo và bắt buộc phải thực hiện qurban.

Nhu cầu thiết yếu bao gồm: một ngôi nhà với vật dụng cơ bản và ba bộ quần áo.

Động vật được phép hiến tế: cừu, dê, bò, trâu hoặc lạc đà. Một con bò hoặc lạc đà có thể được chia sẻ cho bảy người, tức là bảy người có thể cùng nhau hiến tế một con bò cho cả bảy. Nếu có người thứ tám muốn tham gia, qurban của tất cả đều bị hủy (fasid).

Nisab cho qurban cũng giống như nisab cho fitra (phí bố thí cuối Ramadan).

Theo Ibn Abidīn (rahima-hullahu ta'ala), nếu phần chia của bất kỳ ai trong số bảy người ít hơn một phần bảy, qurban của tất cả đều không hợp lệ. Vì vậy, ít hơn bảy người chia nhau qurban vẫn hợp lệ. Tham gia mua chung trước khi mua là tốt hơn, nhưng tham gia sau khi mua cũng hợp lệ. Một người có thể tham gia cùng người khác với phần chia từ 1/7 đến 6/7 con bò. Thịt được chia theo tỷ lệ phần hùn. Nếu một người trong số họ chết, qurban vẫn hợp lệ nếu người thừa kế nói với những người còn lại: “Hãy hiến tế thay cho ông ấy và cho cả các anh.”

Aqiqa – Lễ hiến tế khi sinh con

Aqiqa là việc giết mổ một con vật với ý định tạ ơn Allah vì đã ban cho một đứa trẻ.

Khi đứa trẻ được bảy ngày tuổi, theo trường phái Hanafi, điều được khuyến khích (mustahab) là: Đặt tên cho bé. Cạo đầu bé. Bố thí lượng vàng hoặc bạc (chỉ bạc nếu là bé gái) bằng trọng lượng tóc. Giết mổ hai con vật cho bé trai, một con cho bé gái.

Loại động vật dùng cho aqiqa cũng giống với động vật qurban. Aqiqa có thể được thực hiện vào dịp lễ Eid hoặc bất kỳ lúc nào sau đó. Theo sách Shir’a, sau khi trở thành Nhà tiên tri, Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) cũng đã thực hiện aqiqa cho chính mình. Nếu một đứa trẻ sinh ra đã chết, thì không đặt tên và không làm lễ aqiqa cho bé. Thịt của aqiqa có thể được chính người thực hiện ăn, hoặc phân phát cho cả người nghèo lẫn người giàu, dưới dạng sống hoặc đã nấu chín.

Trong trường phái Shafi’i và Maliki, aqiqa là sunnah muakkada (sunnah được khuyến khích mạnh mẽ). Trong trường phái Shafi’i và Hanbali, xương của con vật không bị đập vỡ mà được tháo rời tại các khớp, gói bằng vải trắng sạch và chôn cất. Trong trường phái Hanafi và Maliki, xương có thể bị đập vỡ.

Aqiqa giúp bảo vệ trẻ em khỏi tai họa và bệnh tật.

TÔI NƯƠNG NÁU NƠI NGÀI, HỠI RASULALLAH

“Người không làm qurban là người keo kiệt nhất (dù việc làm đó là wajib đối với người ấy).”
Hadith
ash-sharif

Khao khát Ngài, trái tim tôi trở nên đẫm máu, tôi đỏ cả người, hỡi Rasulullah,
Với ngọn lửa ấy, tôi không biết làm sao tôi chịu nổi, hỡi Rasulullah,
Trong bao nhiêu của quá khứ, tôi, tiếng than khóc không ngưng, hỡi Rasulullah,
Hãy làm tôi vui mừng với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi đã bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Ngài làm dịu cơn cháy bỏng của trái tim, là thuốc chữa lành vô đối,
Ngài là sự cứu vớt vĩ đại, là người khai đạo,
Ngài là người được Allah yêu thương, Ngài là Muhammad Mustafa,
Hãy làm tôi vui mừng với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi đã bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Hoa hồng không nở, thác nước không chảy nếu vằng Ngài chăm sóc,
Thế giới sẽ suy tàn, hơi thở sẽ kết thúc nếu Ngài không nhìn lên bầu trời,
Lời chia ly sẽ vang lên, lời hợp nhất sẽ vang lên nếu sự hợp nhất với Ngài không được viết trong cõi vĩnh hằng,
Hãy làm tôi hạnh phúc với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi đang bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Từ tinh chất hoa hồng Ngài ban sự sống tưới mát linh hồn,
Nhìn kìa, mặt trời run rẩy và cháy rụi vì mong muốn được nhìn thấy khuôn mặt Ngài,
Một lời cầu xin khốn khổ than khóc từ cuối đời,
Hãy làm tôi hạnh phúc với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Tôi không còn biết đau nếu không có nước và chết trong sa mạc,
Nóng như núi lửa trong lồng ngực tôi, tôi không cảm thấy mát của biển,
Tôi không chú ý, nếu ngọn lửa rơi xuống và tôi hấp thụ chúng,
Hãy làm tôi hạnh phúc với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Thật ân phước biết bao khi nhắm mắt lại, đi trên con đường của Ngài,
Tôi sẽ không phải chia phần để chết trong nơi ở thiêng liêng của Ngài, Sultan của tôi,
Sẽ dễ dàng để chết trong khi khao khát Ngài, trong khi mắt tôi mờ đi,
Hãy làm tôi hạnh phúc với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Tôi cúi đầu, tôi khốn khổ, Ngài có thể chữa lành nỗi đau của tôi,
Môi tôi cháy bỏng, quanh chân Ngài, tụng niệm danh Ngài,
Xin ban ơn cho Qitmir10 này nếu trái tim tôi muốn gặp Ngài,
Hãy làm tôi hạnh phúc với vẻ đẹp của Ngài, vì tôi đang bị thiêu đốt, hỡi Rasulullah.
Yaman Dede

CUỘC SỐNG CỦA AKHIRAT

Cuộc sống của akhirat bắt đầu với cái chết

Chết không có nghĩa là chấm dứt sự tồn tại. Nó là một sự kiện không làm gián đoạn sự hiện hữu. Cái chết là sự chấm dứt mối liên kết của linh hồn với thân xác. Đó là khi linh hồn rời khỏi thể xác. Cái chết là sự chuyển đổi của con người từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nó giống như một cuộc di cư từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác. ‘Umar ibn Abdul’aziz (rahmatullahi ’alaih) đã nói: “Các ngươi được tạo ra để sống đời đời, để vĩnh cửu. Chỉ là, các ngươi sẽ rời khỏi nhà này để đến một ngôi nhà khác!” Cái chết là một ân huệ, món quà đối với người có đức tin. Nhưng nó là tai họa đối với kẻ tội lỗi. Là sự giải thoát cho người nghèo, nhưng lại là thảm họa đối với người giàu. Sự khôn ngoan là món quà mà Allahu ta’ala ban tặng.
Sự ngu dốt là nguyên nhân dẫn đến lạc lối. Con người thường không mong muốn cái chết. Nhưng thực ra, cái chết có lợi hơn sự loạn lạc (fitna). Con người yêu cuộc sống. Nhưng thật ra, cái chết lại tốt hơn cho họ. Với cái chết, người có đức tin thực sự được giải thoát khỏi sự đau khổ và vất vả của thế gian. Khi kẻ độc ác chết, đất nước và người dân được an yên.

Linh hồn của một người Muslim rời khỏi thân xác giống như một tù nhân được phóng thích khỏi ngục tù. Khi đã chết rồi, người có đức tin không mong muốn quay lại thế gian. Chỉ có liệt sĩ (shuhada) mới mong được quay lại để được chết vì đạo thêm một lần nữa. Những điều tốt đẹp của thế gian đã không còn nữa. Những gì còn lại chỉ là nỗi buồn và đau khổ. Do đó, cái chết là món quà cho mỗi người Muslim. Niềm tin (iman) của một người chỉ có thể được bảo vệ bởi ngôi mộ của họ. Món quà đầu tiên dành cho người có đức tin là niềm hân hoan cảm nhận được khi lâm chung. Sự an yên đích thực của người có đức tin chính là được gặp Allahu ta’ala. Đối với mỗi người có đức tin, cái chết tốt hơn cuộc sống. Thậm chí, cái chết cũng hữu ích cho cả kẻ vô đức tin.

Về cái chết của phụ nữ Muslim

“ Hãy làm vì thế giam nhiều như thời gian ngươi sẽ ở đây, và hãy làm vì akhirat nhiều như thời gian ngươi sẽ ở đó. !” Hadith ash-shari

Nếu một người phụ nữ qua đời vì lochia, mang thai, bệnh dịch, hay những đau đớn nội tạng, hoặc qua đời một cách tự nhiên mà không có bất kỳ nguyên nhân nào như vậy, nhưng trong suốt cuộc đời của mình, cô ấy không bao giờ để lộ cơ thể trước những người đàn ông na-mahram mà không che phủ một cách đúng đắn (theo cách thức mà Islam dạy), và khi chồng cô ấy hài lòng với cô, thì vào lúc cô ấy qua đời, các thiên thần của Jannah sẽ đến và xếp thành hàng trước mặt cô, chào hỏi cô với lòng kính trọng, nói rằng: “Ôi cô gái yêu quý và được tử vì đạo của Allahu ta’ala! Hãy bước ra đi, cô còn làm gì ở trong cung điện trần gian này? Allahu ta’ala hài lòng với cô, và Ngài đã làm cho căn bệnh của cô trở thành lý do để tha thứ cho tội lỗi của cô và ban cho cô Jannah của Ngài. Hãy đến và giao phó linh hồn của cô!” Khi người phụ nữ ấy thấy được phẩm giá cao mà cô sẽ đạt được, cô muốn giao phó linh hồn mình. Tuy nhiên, cô nhìn xung quanh và nói: “Nguyện Allahu ta’ala thương xót bạn bè của tôi và tha thứ cho họ, rồi tôi sẽ giao phó linh hồn mình.” Các thiên thần chuyển yêu cầu của cô đến Janab al-Haqq. Lập tức, Lời của Allahu ta’ala được hiện ra, nói rằng: “Vì quyền năng của Vĩ đại của Ta, Ta đã làm cho tất cả các lời cầu nguyện của nô lệ của Ta này được chấp nhận.” Và các thiên thần mang đến cho cô những lời vui mừng. Sau đó, thiên thần của cái chết và một trăm hai mươi thiên thần của sự thương xót đến đó. Ánh sáng từ khuôn mặt của họ tỏa đến Arsh, họ đội vương miện trên đầu, mặc trang phục ánh sáng và mang giày vàng, và có đôi cánh màu xanh. Với những trái cây của Jannah trong tay và tỏa hương như xạ hương, họ hạ xuống, chào cô với lòng kính trọng sâu sắc và thân thiện, nói rằng: “Khallaq al-alam (Đấng Sáng Tạo tất cả sinh linh) gửi lời chào đến cô, ban cho cô Jannah, khiến cô trở thành người hàng xóm của vị Sứ Giả yêu quý của Ngài, Muhammad (alaihis-salam), và là bạn đồng hành của Hadrat Aisha.”

Người phụ nữ có đức tin (iman) ấy nghe được những lời đang được nói với mình, tấm màn trước mắt bà mở ra, và bà thấy những người phụ nữ có đức tin cùng với những người đang bị trừng phạt vì tội lỗi của họ. Bà khẩn cầu: “Lạy Rabb của con, xin hãy tha thứ tội lỗi cho họ!” Lúc đó, một tiếng nói vang lên từ Janab al-‘Izzat: “Hỡi nữ nô lệ của Ta! Ta đã chấp nhận tất cả những lời nguyện cầu của ngươi. Giờ đây, hãy giao phó linh hồn của ngươi, vợ và con gái của Habib Ta đang đợi sẵn.” Vừa nghe thấy lời ấy, bà bắt đầu dâng linh hồn mình, linh hồn bà run rẩy, đôi chân lao về phía trước, và bà đổ mồ hôi. Bà sắp sửa trao linh hồn thì hai thiên thần xuất hiện, mỗi người cầm một cây gậy lửa trong tay, đứng hai bên, một bên phải và một bên trái của bà. Trong khi đó, Shaytan bị nguyền rủa chạy tới, lẩm bẩm: “Ta không mong gì ở người này, nhưng cứ thử xem sao!” Hắn bước lên, đưa ra một cái bình làm bằng trang sức, bên trong là nước trong mát lạnh. Khi các thiên thần thấy sinh vật xấu xa ấy, họ đập vỡ chiếc bình hắn cầm bằng gậy lửa của họ và đuổi hắn đi. Người phụ nữ Muslim mỉm cười khi chứng kiến điều đó. Sau đó, những thiếu nữ houri (thiên nữ trong Jannah) dâng cho bà một thức uống từ hồ Kawthar trong những chiếc bát làm bằng trang sức, và bà uống nó. Thức uống của Jannah ngon đến mức linh hồn bà nhảy ra và dính lấy chiếc ly, từ đó thiên thần của cái chết tiếp nhận linh hồn. Các thiên thần loan báo tin về cái chết với nhau rằng: “Inna lillahi wa inna ilaihi raji’un” (Chắc chắn chúng ta là của Ngài, và chắc chắn sẽ trở về với Ngài!). Họ đưa linh hồn ấy lên các tầng trời như một chuyến tham quan, cho bà thấy chỗ ở của mình trong Jannah, rồi lập tức trở lại, đặt linh hồn ở phía đầu thi thể của bà.

Khi họ cởi quần áo và cởi tóc cho bà, linh hồn bà lập tức đến đầu xác chết và nói, “Hỡi người giặt giũ! Hãy nhẹ nhàng giữ chặt! Vì nó đã nhận một vết thương chí mạng từ móng vuốt của Azrail. Và làn da của tôi đã trở nên yếu đuối sau tất cả những mệt mỏi mà nó đã trải qua.” Khi cơ thể được đưa đến băng ghế tắm rửa, linh hồn lại đến và nói, “Đừng làm cho nước quá nóng! Da tôi khá yếu. Hãy để tôi nhanh chóng được cứu khỏi tay các người để tôi có thể đạt được sự thoải mái!” Khi xác chết được tắm rửa và liệm, linh hồn đợi một lúc rồi nói, “Đây là lần cuối cùng tôi nhìn thấy thế giới. Hãy để tôi nhìn thấy người thân và họ hàng của tôi và để họ nhìn thấy tôi để đó sẽ là một lời cảnh báo cho họ. Vì họ cũng sẽ sớm chết, giống như tôi, hãy để họ khóc lóc và than khóc sau tôi. Hãy để họ không quên tôi, và hãy để họ luôn nhớ đến tôi, hãy đọc (hoặc đọc thuộc lòng) Kinh Qur'an al-karim (và gửi lời phần thưởng về việc làm tốt đó của họ đến linh hồn tôi). Đừng để họ cãi nhau về tài sản tôi để lại để tôi không bị giày vò trong mồ vì cuộc cãi vã của họ. Hãy để họ nhớ đến tôi vào các ngày thứ sáu và những ngày lễ Eid.”

Sau đó, khi quan tài có thi hài được đặt trên (băng ghế gọi là) musalla (để cầu nguyện janaza), linh hồn gọi, “Hãy thoải mái, hỡi con trai (các con gái), mẹ và cha của tôi! Không có ngày chia ly nào khác giống như ngày này. Chúng ta sẽ nhớ nhau cho đến khi chúng ta gặp lại nhau, không sớm hơn ngày phán xét. Tạm biệt các người, hỡi những người than khóc ta!” Khi quan tài được nâng lên đến vai, linh hồn của cô ấy lại gọi và nói, “Hãy mang tôi từ từ! Nếu mục đích của các người là (kiếm) phần thưởng, đừng gây rắc rối cho tôi! Và hãy để tôi được vui vẻ (cùng các người) với Allahu ta’ala!” Khi quan tài được đặt bên cạnh ngôi mộ, linh hồn của cô ấy lại gọi, nói, “Hãy nhìn vào tình huống mà tôi đang gặp phải và hãy để nó là lời cảnh báo cho các người! Bây giờ các người sẽ đặt tôi vào một nơi tối tăm và rời đi. Tôi sẽ ở một mình với amal của tôi (tức là những việc làm của tôi trên thế gian này). Hãy nhìn những khoảnh khắc này kẻo bạn bị cuốn theo những trò gian trá của thế gian dối trá này!” Khi xác chết được đặt xuống mộ, linh hồn sẽ thay thế vị trí của nó bên cạnh đầu của nó. Không có cách nào để một người chết được để lại trong mộ của họ mà không có telqin (sự ghi nhớ). [Một salih Islam thực hiện Telqin sau khi chôn cất là một hành động của sunnah. Những người Wahhabi phủ nhận thực tế rằng thực hiện telqin là sunnah. Họ nói rằng việc làm như vậy là bid’at. Họ nói rằng một người chết sẽ không nghe thấy bạn. Các học giả của Ahl as-sunnah (rahima-humullahu ta’ala) đã viết nhiều cuốn sách khác nhau và chứng minh rằng việc thực hiện telqin (tức là thực hiện nó) là một hành động của sunnah. Một trong những cuốn sách có giá trị này là Nur-al-yaqin fi mebhas-at-telqin, do Mustafa ibn Ibrahim Siyami (rahima-hullahu ta’ala) viết.] Với lệnh của Allahu ta’ala, xác chết trong mộ thức dậy, giống như từ giấc ngủ, để thấy mình ở một nơi tối tăm. Cô gọi người hầu hoặc nô lệ của mình hoặc người từng phục vụ cô trên thế gian và nói, “Lấy cho tôi một ngọn nến!” Không có tiếng trả lời, thậm chí không có một âm thanh hay giọng nói nào. Ngôi mộ tách làm đôi, và xuất hiện hai thiên thần đang chất vấn (tên là Munkar và Nakir). Ngọn lửa dữ dội bốc ra từ miệng của họ, và khói dày bốc ra từ lỗ mũi của họ. Họ đến gần bà và hỏi, “Man Rabbuka wa ma dinuka, wa man nabiyyuka (tức là, ai là Rabb của bà và tôn giáo của bà là gì, và ai là Nhà tiên tri của bà)?” Nếu bà trả lời đúng các câu hỏi, các thiên thần sẽ truyền cho bà tin mừng về lòng thương xót của Haqq ta’ala và rời đi. Ngay lúc đó, một cửa sổ mở ra ở phía bên phải ngôi mộ của bà, và một người có khuôn mặt sáng như trăng tròn bước vào qua cửa sổ. Ngay khi người phụ nữ được ban phước với đức tin này nhìn thấy người đẹp đó bên cạnh mình, bà vui mừng trước sự đồng hành bất ngờ và hỏi, “Bạn là ai?” Câu trả lời là, “Tôi đã được tạo ra từ sự kiên nhẫn và shukr (lòng biết ơn) của bạn trên thế giới. Tôi sẽ là bạn đồng hành của bạn cho đến ngày phán xét.”

Về cái chết của những người vô đức tin

“ Mọi người đang yên nghỉ. Họ sẽ trở dậy khi họ chết .” Hadith ash-sharif

Khi một người không tin, hoặc một kẻ bỏ đạo (murtad), hoặc một kẻ ngu dốt khinh thường Islam và gọi Qur’an al-Karim là 'luật sa mạc', và ngu muội đến mức gọi Muhammad người cao quý nhất và là thầy của tất cả các vị tiên tri – là 'kẻ chăn lạc đà' (nguyện Allahu ta’ala bảo vệ chúng ta khỏi hành động hèn hạ như vậy), và hạ mình nói rằng các tôn giáo là không cần thiết sau khi đánh giá Islam – nền tảng của hòa bình và hạnh phúc xã hội, nguồn gốc của tri thức, đạo đức, sự sạch sẽ, sức khỏe và công lý, và là người xây dựng mọi nền văn hóa – dưới tiêu chí nghèo nàn của một bộ óc rối loạn như một hộp xác chết – và chỉ là một món đồ chơi trong tay của chính cái tôi của mình – sắp chết, màn che trước mắt anh ta được nâng lên. Thiên đàng được hiện ra trước mắt anh ta. Một thiên thần xinh đẹp nói với anh ta: “Ôi kẻ không tin! Ôi ngươi, kẻ hèn hạ, người gọi những người Hồi giáo là 'kẻ lạc hậu', và những người chạy theo dục vọng của mình và chà đạp lên các nguyên tắc đạo đức là 'người văn minh và hiện đại'! Ngươi đã đi sai đường. Ngươi đã khinh thường Islam, tôn giáo đúng đắn. Những người đã tin và tôn trọng những giáo lý mà Muhammad mang đến từ Allahu ta’ala sẽ vào được thiên đàng này.” Hắn nhìn thấy những phước lành trong Thiên đàng. Và các nữ thần Thiên đàng nói, “Những người có đức tin sẽ được cứu khỏi sự giày vò mà Allahu ta’ala sẽ giáng xuống.” Sau đó, tên shaytan xuất hiện dưới hình dạng một thầy tế và nói, “Hỡi ngươi, này nọ, con trai của này nọ! Những kẻ đã ở cùng ngươi một thời gian trước là những kẻ nói dối. Những phước lành đó sẽ là của ngươi.” Sau đó, Địa ngục được chỉ cho hắn thấy. Nó chứa những ngọn núi lửa, bọ cạp và rết to bằng con la. Hắn nhìn thấy những sự giày vò được nêu trong hadith ash-sharif. Các thiên thần của sự hành hạ từ Địa ngục, được gọi là Zabanis, đánh bằng những thanh lửa. Ngọn lửa phun ra từ miệng của chúng. Chúng cao như những ngọn tháp, và răng của chúng giống như sừng của bò. Tiếng gọi của chúng nghe như sấm sét. Kẻ không tin rùng mình khi nghe tiếng nói của chúng và quay mặt về phía shaytan. Shaytan sợ hãi đến mức quay đuôi lại. Các thiên thần bắt shaytan và đánh ngã hắn. Chúng tấn công kẻ không tin, chúng nói, “Hỡi kẻ thù của Islam! Trên đời, ngươi đã không tin Rasulullah (sallallahu ta'ala 'alaihi wa sallam). Và bây giờ ngươi đã không tin các thiên thần, và một lần nữa, ngươi đã bị lừa dối bởi tên shaytan đáng nguyền rủa.” Chúng treo xích lửa trên cổ hắn, kéo chân hắn lên đến đầu sao cho bàn chân của hắn ở phía sau đầu, và đâm tay phải của hắn vào bên ngực trái và tay trái vào sườn phải của hắn, khiến hai tay hắn thò ra khỏi lưng. Có một ayat al-karima thông báo cho chúng ta về những sự kiện bi thảm này11. Hắn khóc và gọi những kẻ nịnh hót mình trên thế giới đến giúp đỡ. Thay vào đó, những người Zabanis trả lời hắn, “Hỡi kẻ không tin, hỡi kẻ ngu ngốc đã chế giễu người Muslim! Không còn thời gian để cầu xin nữa. Đức tin hay lời cầu nguyện sẽ không còn được chấp nhận nữa. Đã đến lúc ngươi phải bị trừng phạt vì sự không tin của mình.” Họ kéo lưỡi của hắn ra khỏi gáy. Họ khoét mắt hắn. Với nhiều cách hành hạ vô cùng cay đắng khác, họ moi linh hồn đáng ghê tởm của hắn ra và ném vào Địa ngục.

Cầu xin Allahu ta’ala ban phước cho chúng ta bằng cách quy phục linh hồn của mình trong tôn giáo của Muhammad ‘alaihis-salam và được trang bị tín điều được viết trong sách của các học giả Ahl as-sunnah, những người đã truyền đạt tôn giáo của Vị tiên tri cao quý nhất đó một cách chính xác cho chúng ta! Amin.

Tất cả những người có đức tin, dù phạm tội hay không, đều sẽ trải qua sự tra hỏi trong mộ. Sự trừng phạt cũng sẽ được giáng xuống những ai chưa được tha thứ, cũng như những kẻ không có đức tin. Những người chuyên đi gieo chuyện, đồn đại trong cộng đồng Hồi giáo và những người làm bẩn mình bằng nước tiểu khi đi vệ sinh sẽ bị trừng phạt trong mộ. (Hình phạt trong mộ không chỉ giáng xuống linh hồn mà là cả linh hồn và thể xác [tức là cả về mặt vật lý]. Những sự thật này vượt ngoài tầm hiểu biết của lý trí, vì vậy chúng ta không nên cố dùng lý trí để phân tích hay lý giải chúng.) Nếu người đó chết mà không có đức tin (tức là không tin vào Allah), thì họ sẽ phải chịu hình phạt cay đắng cho đến ngày Mahshar (tức là Ngày Phán Xét) – và sau đó sẽ bị trừng phạt vĩnh viễn trong địa ngục Jahannam.

Ta không thể biết hết chân giá trị của Ngài,
Vì vậy, thay vì ca ngợi, tốt hơn là im lặng.
Hãy biết rằng Giáo chủ, Tiên tri chúng ta như mặt trời,
Những vì sao của các vị tiên tri sáng lên từ Ngài.
Allah đã tạo ra Ngài với akhlaq tuyệt đẹp,
Người tô điểm cho Ngài bản chất tốt bụng và khuôn mặt tươi cười,
Sang tạo ra Ngài đáng yêu như các loài hoa,
Như ánh trăng rằm, Ngài vinh quang và sáng chói.
Như thời gian trôi không ngừng, lòng từ bi và ân phước ấy,
Đại dương chỉ là một giọt nước so với sự hào phóng của Ngài.
Hương của đất quyện lấy cơ thể ân phước của Ngài,
Hãy tin tôi đi, thơm hơn bất kỳ loại xạ hương nào.
Thật hạnh phúc thay cho ai ngửi và hôn đất đó,
Những ai lấp đầy phổi của họ bằng mùi hương ân phước đó.
Ngài là chủ nhân của tất cả, dù họ không phải là người Ả Rập,
Là lý do mà vũ trụ được tạo ra.
Ngài cấm điều xấu xa và khuyên làm điều thiện,
Điều răn và lệnh cấm của Ngài là mệnh lệnh Thánh thần.

Qasidat al-Burda

“ Hãy chết trước khi cái chết đến. Hãy tự lo cho mình trước khi người ta lo giùm !” Hadith ash-sharif

TÔN GIÁO VỤ THỰC HIỆN CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT

Cần làm gì khi thấy dấu hiệu tử vong

Dấu hiệu cái chết sắp đến bao gồm: chân trở nên mềm yếu và duỗi dài ra, mũi cong lại, và thái dương hõm xuống. Người bệnh trong tình trạng này nên được đặt nằm nghiêng bên phải, mặt quay về hướng qibla. Đây là một hành động sunnah. Cũng được phép đặt người đó nằm ngửa, chân hướng về qibla – cách này ngày nay khá phổ biến. Tuy nhiên, cần kê một vật gì đó dưới đầu để mặt người đó có thể hướng về qibla. Nếu việc này gây khó khăn, thì cũng được phép đặt người bệnh nằm theo bất kỳ cách nào thuận tiện.

Khi nhắc người bệnh đọc Kalima at-tawhid, sẽ tốt hơn nếu thêm câu: “Muhammadun Rasûlullah.”

Dấu hiệu cái chết đã xảy ra bao gồm: cứng đơ cơ thể (hiện tượng rigor mortis), cơ thể lạnh dần, và bắt đầu phân hủy. Việc xác định cái chết có thể được thực hiện trước khi các dấu hiệu này xuất hiện, ví dụ như qua việc ngưng thở (có thể kiểm tra bằng cách đặt gương trước miệng người bệnh – gương không bị mờ bởi hơi thở chứng tỏ đã ngưng thở) hoặc tim ngừng đập (có thể kiểm tra qua mạch). Khi xác nhận người đó đã chết, theo sunnah, nên nhắm mắt họ lại và buộc cằm họ cố định.

Cần phải làm gì khi cái chết xảy ra

Việc nhắm mắt và buộc cằm người đã khuất là sunnah. Cằm nên được buộc bằng một dải vải rộng, quấn qua đỉnh đầu. Khi nhắm mắt cho người đã mất, sunnah là đọc câu: “Bismillah wa ’ala millat-i Rasulillah” và một số lời cầu nguyện khác. Trước khi thi thể lạnh lại, sunnah là co duỗi các ngón tay, khuỷu tay và đầu gối, sau đó để tay chân duỗi thẳng. Như vậy sẽ dễ dàng hơn cho việc tắm rửa và khâm liệm. Trước khi cơ thể lạnh đi, quần áo của người mất được cởi ra và cơ thể được phủ bằng một tấm khăn mỏng và rộng. Một đầu khăn để dưới đầu và đầu kia dưới chân. Một vật gì đó bằng sắt (như dao hoặc dụng cụ nặng hơn 100 gam) được đặt trên bụng hoặc dưới khăn để tránh thi thể bị trương phình.

Việc tắm rửa, khâm liệm, cầu nguyện janaza và chôn cất người đã mất là fard al-kifaya, tức là nếu một số người đã thực hiện các nghĩa vụ này, những người còn lại không còn bị bắt buộc phải làm. Trẻ em được phép tắm rửa cho người đã khuất. Nếu không có phụ nữ, đàn ông không được tắm rửa cho thi thể phụ nữ. Tuy nhiên, nếu người chết đã được phủ kín từ đầu đến chân, một người thân (nếu có) hoặc người khác (nếu không có thân nhân) có thể quấn một mảnh vải quanh tay mình, rồi làm tayammum (làm sạch khô bằng đất hoặc đá) lên thi thể đó. Bởi vì phần awrat (bộ phận kín đáo) của người chết vẫn giữ nguyên như khi còn sống – các bộ phận bị cấm nhìn cũng bị cấm chạm vào. Tốt hơn hết là nên dạy cho một đứa trẻ biết cách rồi để nó thực hiện việc tắm rửa.

Theo madhhab Hanafi, người chồng không được tắm rửa hay chạm vào thi thể người vợ, bởi vì nikah (hôn nhân) chấm dứt ngay khi người vợ qua đời. Tuy nhiên, anh ta vẫn được phép nhìn vợ. Trong ba madhhab còn lại, người chồng được phép tắm rửa cho vợ. Riêng trong madhhab Hanafi, người vợ được phép tắm rửa cho chồng, vì nikah vẫn còn hiệu lực cho đến khi kết thúc thời gian 'iddah (bốn tháng mười ngày). Đàn ông không được tắm cho phụ nữ và phụ nữ cũng không được tắm cho đàn ông. Họ chỉ được làm tayammum, bằng cách quấn vải quanh tay. Một người đàn ông làm tayammum cho phụ nữ không phải mahram thì không được nhìn thấy tay trần của cô ấy. Nếu cô ấy là mahram (họ hàng không được kết hôn), thì không cần quấn vải quanh tay, vì được phép nhìn và chạm vào mặt và tay của mahram.

Nếu chỉ tìm thấy đầu hoặc một nửa cơ thể (không có đầu) của một người, thì không được rửa, và lễ nguyện janaza không được thực hiện. Nó được chôn như vậy. Nếu hơn một nửa cơ thể thậm chí không có đầu, hoặc nếu tìm thấy một nửa cơ thể có đầu, thì nó được rửa, và lễ nguyện janaza được thực hiện.

Mustahab là một người phải tự mình rửa một xác chết trước. Makruh là một người junub hoặc một phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt phải rửa xác chết. Nước dùng để rửa xác chết trở thành ma al-musta’mal. Nó trở thành najs, hôi thối. Do đó, những người rửa xác không được để nước bắn vào người hoặc phải quấn mình trong một tấm vải lớn. Khi được rửa, xác chết trở nên sạch sẽ.

Không ai ngoại trừ người rửa và người giúp việc của người đó được phép vào khu vực rửa. Những người rửa xác chết phải đáng tin cậy. Họ phải truyền đạt các dấu hiệu của sự ban phước và che giấu các dấu hiệu của sự gian ác nhìn thấy trên xác chết. Không được tiết lộ sự nhục nhã của người đã chết, người giám hộ của người đã chết có thể vào khu vực đó.

Giáo chủ Rasulullah (sallallahu 'alaihi wa sallam) của chúng ta được Fadl, con trai của Abbas và Hadrat Ali (radiyallahu 'anhum) tắm rửa. Trong khi đó, Usama (radiyAllahu 'anh) thì đổ nước lên Ngài, và Abbas (radiyallahu 'anh) thì ra vào phòng.

Bất cứ điều gì gây đau đớn cho người sống cũng gây đau đớn cho người chết. Vì lý do này, xác chết không được rửa bằng nước quá lạnh hoặc quá nóng. (Cũng không được giữ trong nhà đá để bảo vệ chống thối rữa. Phải ngăn ngừa thối rữa bằng cách chôn cất ngay lập tức, và không được để xác chết chờ người thân sống xa đến.) Không được phép rửa xác chết bằng nước Zamzam.

Tắm rửa tử thi

Trước tiên, trầm hương (bakhur) được đốt và xông quanh bàn tắm ba vòng. Cũng có thể xông năm vòng. Bakhur là một loại thực vật, được trộn với mạt gỗ trầm hương và nhựa cây storax, rồi đốt trong một vật dụng, để khói lan tỏa khắp bàn tắm.

Bàn tắm xác phải cao khoảng ngang rốn của người bình thường và hơi nghiêng một chút. Sau đó chuẩn bị nước đã được đun với lá tuyết tùng hoặc cây xà sàng, để nguội hoặc pha thêm một chất thơm màu trắng gọi là long não. Nước không được quá nóng và cần phải mặn nhẹ. Nước mát và mặn giúp làm chậm quá trình phân hủy.

Khi tắm xác, việc có niyyah (ý định) là sunnah. Nếu không có niyyah, thi thể vẫn được làm sạch, nhưng nghĩa vụ fard (bắt buộc) sẽ chưa được hoàn thành.

Thi thể, khi đã được che phủ, được đặt nằm ngửa hoặc theo cách thuận tiện trên bàn tắm đã xông trầm. Khi tắm, phần giữa rốn và đầu gối của người chết phải được che phủ. Vì phần awrat (vùng kín) của phụ nữ cần được che kín khỏi những phụ nữ khác cũng giống như phần

“ Người đã khuất ở trong mộ giống như một người đang sắp chìm xuống nước; họ luôn mong mỏi những lời khấn nguyện cho họ từ cha mẹ, anh em và bạn bè của mình.” Hadith ash-sharif

awrat của đàn ông cần được che kín khỏi những người đàn ông khác. Việc đặt thi thể hướng về phía qibla trên bàn tắm là sunnah.

Dù thi thể là của một đứa trẻ, đầu tiên cũng phải được làm sạch (abdast). Tuy nhiên, thay vì cho nước vào miệng và mũi, người ta dùng một mảnh vải để lau sạch chúng. Nếu nước vào miệng, sẽ làm tăng nhanh quá trình phân hủy. Đầu tiên, rửa mặt. Sau đó, rửa tay, lau đầu, tai và sau gáy, rồi rửa chân.

Đầu và râu được rửa bằng kẹo dẻo (marshmallow) hoặc xà phòng. Sau đó, thi thể được lật sang bên trái và đổ nước lên bên phải. Nước phải được đổ đến cả những phần tiếp xúc với bàn tắm. Sau đó, thi thể được lật sang bên phải và đổ nước từ đầu đến chân. Sau đó, thi thể được ngồi dậy và bụng nhẹ nhàng được ấn xuống. Mọi chất thải ra ngoài sẽ được rửa sạch (tức là loại bỏ bằng cách đổ nước). Sau đó, thi thể lại được nằm nghiêng sang bên trái, và bên phải được rửa lại (nước được đổ từ đầu đến chân). Như vậy, theo hướng dẫn của sunnah, thi thể sẽ được rửa ba lần. Nếu có gì đó làm hỏng sự sạch sẽ (abdast) sau khi rửa, thì sẽ không phải rửa lại hay làm sạch lại nữa.

Mọi tóc rụng sẽ được đặt vào trong khăn liệm. Việc chôn móng tay, tóc và răng đã rụng hoặc đã bị cắt ra từ một người sống cũng là sunnah.

Sau khi rửa, thi thể được lau khô bằng một mảnh vải trên bàn tắm. Long não hoặc hỗn hợp thơm gọi là hanut sẽ được rắc lên tóc và râu. Sử dụng nghệ (saffron) là makruh. Bông tẩm long não được đặt lên các cơ quan của sajda (sự sụp xuống trong cầu nguyện) như trán, mũi, đầu gối, ngón tay và ngón chân.

Có thể đặt bông vào miệng, lỗ mũi, lỗ tai hoặc lên mắt.

Một người bị chết đuối được rửa ba lần hoặc di chuyển ba lần trong nước với ý định rửa. Một người bị ướt hoàn toàn do mưa cũng được rửa như vậy.

Khâm liệm cho đàn ông

Theo sunnah, tấm vải liệm của một người đàn ông bao gồm ba phần:

1 - Izar: Nó kéo dài từ đầu đến chân và rộng hơn một mét.

2- Qamis (một chiếc áo sơ mi, dài như áo dài): Nó dài gấp đôi từ vai đến chân. Nó được gấp lại một lần ở giữa, và nơi gấp được cắt thẳng đủ rộng để đầu có thể chui qua. Không cắt lỗ khoét tay áo và cổ tay áo.

3 - Lifafa: Nó kéo dài ra ngoài đầu và chân và rộng hơn. Các đầu của nó trên đầu và dưới chân được gấp lại và buộc chặt bằng một mảnh vải.

Imam ar-Rabbani nói rằng ta phải sử dụng một tấm vải liệm bao gồm nhiều hơn ba phần. Tốt hơn là nên xông hương riêng từng phần của tấm vải liệm trước khi đặt chúng vào quan tài.

Sẽ có lợi khi làm vải liệm từ quần áo hoặc trang phục của những người Muslim ngoan đạo hoặc Awliya hoặc đặt chúng vào vải liệm hoặc trên mặt hoặc ngực của xác chết.

Đầu tiên, lifafa được đặt vào quan tài. Sau đó, izar được đặt lên trên. Qamis cũng được đặt vào trong quan tài. Sau đó, bakhur được xoay ba hoặc năm lần xung quanh quan tài. Hanut được rắc lên cả ba phần của tấm vải liệm.

Sau khi xác chết khô, qamis được lấy ra khỏi quan tài, đưa qua đầu xác chết và kéo dài xuống chân, một nửa dọc theo phía trước và một nửa còn lại dọc theo phía sau xác chết. Khi đọc Basmala, xác chết được đặt nằm trên izar trong quan tài. Đầu tiên, bên trái, sau đó là bên phải của izar được đặt lên xác chết. Lifafa cũng được đóng lại. Nghĩa là, bên phải của nó được đặt lên bên trái của nó.

Khâm liệm cho phụ nữ

Theo sunnah, khăn liệm của phụ nữ bao gồm năm phần: Qamis, izar, lifafa, khimar và vải che ngực. Khimar là khăn trùm đầu, dài khoảng bảy mươi lăm cm. Hai đầu khăn được để rủ xuống mặt thay vì quấn quanh đầu. Vải che ngực kéo dài từ vai đến đầu gối.

Đầu tiên, lifafa được đặt vào quan tài. Sau đó, izar được đặt lên trên. Qamis cũng được đặt vào quan tài. Vải che ngực được đặt trước hoặc sau izar. Khi qamis của phụ nữ được đóng lại, tóc của cô ấy được rẽ ở giữa và cả hai nửa được đặt lên hai bên và đặt trên qamis trên ngực. Khimar được đặt trên tóc của cô ấy, sau đó được phủ izar. Vải che ngực được quấn quanh xác chết trước hoặc sau izar. Sau đó, nó được phủ lifafa. Đầu và chân và phần giữa (quanh bụng)

của lifafa được quấn và buộc bằng một mảnh vải.

Một cậu bé lớn được liệm như một người đàn ông, và một cô bé lớn được liệm như một người phụ nữ. Một cậu bé nhỏ được liệm trong một vật phẩm, và một cô bé nhỏ được liệm trong hai vật phẩm. Một đứa trẻ sinh ra đã chết hoặc bị phá thai hoặc một chi của con người (ví dụ, một cánh tay) không được liệm; chúng được quấn trong một số vải và chôn cất.

Quan tài phải được làm từ gỗ ghép mà không sử dụng bất kỳ chiếc đinh nào.

Sau một lời cầu nguyện ngắn và tha thứ cho tất cả các quyền mà người ta có đối với người đã khuất, xác chết (trong quan tài) được đưa đến musalla (ghế đá mà quan tài được đặt trên đó) và lễ nguyện (của janaza) được thực hiện.

Viếng mộ và đọc (tụng) kinh Qur'an al-karim

Được viết trong những trang cuối của cuốn sách Sharia al-Islam rằng việc viếng mộ là một hành động sunnah. (Nên viếng mộ hàng tuần, hoặc ít nhất là vào các ngày lễ Eid. Việc viếng mộ đem lại nhiều thánh đức hơn nếu được thực hiện vào ngày thứ Năm, thứ Sáu hoặc thứ Bảy.) Người viếng mộ sẽ suy ngẫm về thực tế rằng những thi thể trong mộ sẽ phân hủy, điều này sẽ là một lời cảnh tỉnh cho họ. Mỗi khi ’Uthman (radiyallahu ’anh) đi qua một ngôi mộ, ông khóc đến mức râu của ông ướt đẫm. Ngoài ra (ngoài việc cảnh tỉnh cho người viếng thăm), người chết trong mộ cũng sẽ nhận được lợi ích từ những lời cầu nguyện dành cho họ. Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam) thường xuyên viếng thăm các mộ của người thân và của các Ashab (radiyallahu ta’ala ’anhum) của Ngài. Sau khi làm lễ chào và cầu nguyện, người viếng mộ sẽ ngồi với mặt hướng về mộ và lưng quay về phía qibla. Tục lệ của người Cơ Đốc là xoa tay và mặt lên mộ hoặc hôn lên đất trên mộ. Việc hôn đất trên mộ chỉ được phép nếu đó là mộ của cha mẹ mình.

“ Nếu ai đến thăm mộ của cha mẹ mình hoặc mộ của các bậc tiền nhân vào mỗi thứ sáu, người đó sẽ được tha thứ tội lỗi của họ.”
Hadith ash-sharif

Hadith ash-sharifs nói rằng:

“Nếu một người đến thăm mộ của một người mà họ biết và chào salam, thì mayyit (người đã khuất) sẽ nhận ra người đó và thừa nhận lời chào salam của người đó.”

“Nếu một người đọc lời cầu nguyện sau khi đến thăm mộ của một tín đồ, thì người đã khuất đó sẽ được giải thoát khỏi sự dày vò cho đến ngày phán xét: Allahumma inni as’aluka bi-hurmati Muhammad ‘alaihis-salam an la- tu’azziba hazal-mayyit.”

“Nếu một người đến thăm mộ cha mẹ mình hoặc mộ của một trong những bậc cha mẹ mình vào mỗi thứ Sáu, thì tội lỗi của người đó sẽ được tha thứ và người đó sẽ được đền đáp các quyền của họ.”

Tốt hơn là nên viếng thăm mộ của các bậc vĩ nhân ở xa khi chúng ta đến nơi đó vì công việc khác, thay vì đi một chuyến xa chỉ với mục đích viếng mộ của họ. Tuy nhiên, việc đi một hành trình dài chỉ để viếng mộ của Đức Thánh Sứ Muhammad (sallallahu ’alaihi wa sallam) mang lại rất nhiều công đức (thawab). Một người viếng thăm (mộ của) các vị Nabi (’alaihimus-salam) và Awliya (’alaihir-rahma) sẽ được hưởng từ linh hồn thiêng liêng của họ. Trái tim của người đó sẽ trở nên trong sạch, tỉ lệ thuận với tình yêu và sự gắn bó của họ đối với các ngài. Nếu có những tội lỗi xảy ra tại các lăng mộ của các Awliya, chẳng hạn như phụ nữ không che đậy kín đáo cũng đến viếng, điều này không nên là lý do để chúng ta ngừng viếng thăm những nơi linh thiêng đó; nếu chúng ta không thể ngăn chặn các vi phạm như vậy, thì chúng ta nên ghét điều đó bằng trái tim của mình. Tương tự như vậy, chúng ta nên tham dự lễ tang của một người có đức tin, ngay cả khi có phụ nữ, âm nhạc, các bài thơ ca tụng hoặc bài phát biểu được đọc lên. Kinh Qur’an al-Karim nên được đọc bên cạnh ngôi mộ hoặc ở nơi khác, và công đức thu được nên được dâng tặng cho linh hồn của những người tin đã khuất, và những lời cầu nguyện cũng nên được đọc cho họ. Bởi vì, rahmat (lòng thương xót) và barakat (phúc lành) sẽ giáng xuống nơi nào có Qur’an được đọc. Những lời cầu nguyện tại nơi đó sẽ được Allahu ta’ala chấp nhận.

Trong sách Jila-ul-Qulub có ghi: Một người khi bước vào nghĩa trang sẽ đứng và nói:
“Assalamu ‘alaikum, ya Ahla dar-il qawm-il-mu’minin! Inna inshaallahu ‘an qaribin bikum lahiqûn.” Sau đó, người ấy đọc Basmala, rồi đọc Surah Ikhlas mười một lần (mỗi lần đều bắt đầu bằng Basmala) và Surah Fatiha một lần (cũng bắt đầu bằng Basmala). Sau đó, người ấy đọc lời nguyện: “Allahumma Rabbal-ajsad-il-baliyeh, wal-izamin nahiratillati harajat minad-dunya wa hiya bika mu’minatun, edhil ’alaiha ravhan min ’indika wa salaman minni.” Người ấy đến gần ngôi mộ từ phía bên phải và phía chân của người chết (phía qibla của ngôi mộ). Người ấy chào mộ (nói: “Salamun ’alaikum”). Đứng, quỳ gối hoặc ngồi, người ấy đọc phần đầu và phần cuối của Surah Baqara, sau đó là Surah Yasin, tiếp đến là các Surah Tabaraka, Tekathur, Ikhlas ash-Sharif và Fatiha, rồi gửi công đức đó như một món quà cho người đã khuất.

Trong cuốn sách có tựa đề Kitab al-fiqh ’alal-madhahib al-arba’a có viết “Viếng mộ là một hành động của sunnah do đàn ông thực hiện để nhận lời cảnh báo từ người chết và suy ngẫm về akhirat (ngày sau). Mọi ngôi mộ đều được viếng thăm, xa và gần. Trên thực tế, đi một quãng đường dài để viếng thăm người Muslim Salih và Walis (rahimahumullahu ta’ala) là sunnah. Một trong những hành động thờ cúng có giá trị nhất là viếng thăm ngôi mộ được ban phước của Rasulullah (sallallahu ’alaihi wa sallam). Phụ nữ lớn tuổi cũng được phép viếng mộ, miễn là họ ăn mặc phù hợp. Không được phép làm tawaf xung quanh ngôi mộ hoặc hôn đất hoặc yêu cầu điều gì đó từ người chết mà họ không thể làm trong chuyến viếng thăm.” Awliya (rahima-humullahu ta’ala) được yêu cầu shafa’at, để cầu xin phước lành của Allahu ta’ala.

Sarwar là một tôi tớ của Rabb của chúng ta,
Vào mọi lúc nguy hiểm, hy vọng là shafa’at của Ngài.
Ngài là một Rasul thế nên Ngài gọi mọi người,
Thờ phụng Allah, tất cả phải tuân theo Ngài.
Ai làm vậy sẽ thấy yên tâm và thoải mái như,
Bám được vào một sợi dây chắc chắn không thể đứt.
Hỡi Ilahi, vì gia đình của Ngài và Ashab,
Và những ahl at-taqwa đi theo họ,
Cầu xin những cơn mưa xót thương đổ xuống họ,
Để những tôi tớ thiện lành có được Lòng xót thương.
Hỡi Rabb, như làn gió nhẹ buổi sáng thổi qua,
Như những cành cây chùm ngây đung đưa,
Như đầu của những lối vào đoàn lữ hành,
Những con lạc đà với những giai điệu ngọt ngào của chúng.
Với Fakhr al-kainat và gia đình của Ngài và Ashab,
Xin gửi cơn mưa xót thương của Ngài cho ai tuân theo họ.

Qasidat al-Burda

Maqam của Ibrahim.

Maqam của Ibrahim

Tảng đá có dấu chân của Nabi Ibrahim ‘alaihis-salam là tảng đá mà Ngài đã dùng làm giàn giáo khi xây dựng cấu trúc của Ka’ba, đồng thời cũng dùng như một bệ bước lên và khi thực hiện nhiệm vụ mời gọi con người đến với Allah. Tảng đá này, như một phép màu của Ibrahim ‘alaihis-salam, có thể nâng lên và hạ xuống theo ý muốn của Ngài giống như một thang máy khi xây dựng Ka’ba.

Maqsurah (lồng bảo vệ) bao quanh tảng đá thiêng liêng này đã bị dỡ bỏ vào thời Vua Faisal của Ả Rập Xê Út, và thay vào đó là một khung lục giác bằng kính, hiện vẫn còn tồn tại đến ngày nay.