HEGIRA
Sự đột ngột cải sang Islam của các bộ lạc Aws và Khazraj và khả năng người Muslim ở Mecca và người Muslim ở Medina hợp nhất lại khiến những người theo đa thần vô cùng sợ hãi và tức giận. Thái độ của những người theo đa thần ở Mecca đã trở nên rất nghiêm khắc và nguy hiểm khi nghe nói về lễ bi'at thứ hai của Aqaba. Đối với người Muslim ở lại Mecca thật không thể chịu nổi. Với bi'at cuối cùng của Aqaba, Medina đã trở thành nơi mà các Muslim có thể tìm thấy sự an yên. Họ muốn tìm cách rời khỏi thành phố này, đến những vùng đất mà họ có thể thở và sống tự do một chút. Trình bày hoàn cảnh của họ với Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam), họ đã xin phép di cư. Ngài khuyên Ashab của Ngài hãy kiên nhẫn. Việc rời khỏi Mecca vẫn chưa được cho phép.
Cuối cùng, mặc khải về sự di cư đã đến. Ngày hôm đó, Tiên tri kính yêu của chúng ta vui vẻ đến gặp Ashab al-kiram và nói: “Ta đã được tin về nơi các bạn sẽ di cư đến. Nơi đó là Yathrib (Medina). Hãy di cư đến đó. Hợp nhất với anh em Muslim của các bạn ở đó. Allahu ta'ala đã ban cho họ làm anh em của các bạn. Người đã biến Yathrib (Medina) thành ngôi nhà nơi các bạn sẽ tìm thấy sự an trú và bình yên.” Theo sự cho phép và lời khuyên của Giáo chủ Rasulullah của chúng ta, những người Muslim bắt đầu di cư đến Medina lần lượt theo từng nhóm.1
Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã chỉ thị nghiêm khắc những người di cư phải hết sức thận trọng. Để không thu hút sự chú ý của những người theo đa thần, người Muslim khởi hành theo những đoàn nhỏ và di chuyển càng bí mật càng tốt. Abu Salama, người đầu tiên di cư đến Medina, đã bị những người theo đa thần đàn áp nghiêm trọng. Sau đó, những người đa thần phát hiện ra cuộc di cư đã bắt đầu ép buộc những người Muslim đang di cư, quay trở lại, tách phụ nữ ra khỏi chồng của họ, bỏ tù những người yếu thế và khiến họ phải chịu nhiều loại cực hình. Chúng tra tấn họ để khiến họ từ bỏ tôn giáo của mình. Nhưng chúng không dám giết người vì sợ nội chiến sẽ nổ ra. Những người Muslim, bất chấp tất cả những điều này, tận dụng mọi cơ hội và lên đường đến Medina.
Một ngày nọ, Hadrat 'Umar cũng đeo thanh kiếm của mình. Ông mang mũi tên và ngọn giáo của mình và thực hiện tawaf quanh Ka’ba bảy lần trước mặt mọi người. Ông nói lớn với những người theo đa thần ở đó, “Đây, ta cũng đang di cư trên con đường của Allahu ta’ala để bảo vệ tôn giáo của mình. Nếu ai muốn để lại vợ góa, con côi, làm mẹ khóc, hãy đến gặp ta ở phía sau thung lũng kia!”
Do đó, Hadrat 'Umar và khoảng 20 người Muslim đã lên đường đến Medina vào ban ngày mà không hề sợ hãi. Không ai có thể chạm vào đoàn lữ hành này vì sợ ông ta. Sau đó, các cuộc di cư diễn ra không ngừng và Ashab al-kiram đã đến được Medina theo từng nhóm.
“Hỡi Aba Bakr! Hãy kiên nhẫn. Ta hy vọng Allahu ta'ala cũng sẽ cho phép ta. Chúng ta sẽ cùng di cư.”
Hadith
ash-sharif
Trong khi đó, Hadrat Abu Bakr xin phép di cư. Giáo chủ chúng ta, Rasul al-akram (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đã nói: “Hãy kiên nhẫn. Ta hy vọng Allahu ta'ala cũng sẽ cho phép ta. Chúng ta sẽ cùng di cư.” Khi Hadrat Abu Bakr hỏi: “Cầu xin cha mẹ tôi được hy sinh vì Ngài! Có thể như thế không?” Tiên tri chúng ta đã làm ông ấy vui khi nói: “Có chứ.”
Hadrat Abu Bakr mua hai con lạc đà với giá tám trăm dirham và bắt đầu chờ đợi ngày đó. Giờ đây, Tiên tri kính yêu của chúng ta, Hadrat Abu Bakr, Hadrat Ali, những người nghèo, người bệnh, người già và một số tín đồ bị những người theo đa thần cầm tù vẫn còn ở Mecca.
Mặt khác, người Medina (người Ansar) lại hân hoan chào đón những người Mecca (người Muhajir) nhập cư và cho họ vào nhà của mình. Một sự đoàn kết mạnh mẽ đã được hình thành giữa họ.
Những người đa thần ở Mecca đã cảnh giác trước khả năng Rasulullah sẽ di cư và nắm quyền chỉ huy người Muslim. Họ tập trung tại Dar an-Nadwa, cùng nhau thảo luận những vấn đề quan trọng và bắt đầu bàn về những việc cần làm. Shaytan đã đến với những người đa thần dưới lốt Shaykh an-Najdi, tức là một Najdi già. Hắn lắng nghe cuộc trò chuyện của họ. Nhiều đề xuất khác nhau đã được đưa ra. Nhưng không cái nào được chọn. Sau đó, shaytan can thiệp và đưa ra ý kiến của hắn, “Không ý tưởng nào của các bạn có thể giải quyết được. Mọi sự đề phòng đều tan biến vì gương mặt tươi và cái lưỡi ngọt của hắn. Hãy nghĩ về giải pháp khác.”
Abu Jahl, thủ lĩnh của Quraysh, nói: “Chúng ta hãy chọn một người mạnh mẽ từ mỗi bộ tộc. Với thanh kiếm trong tay, họ sẽ tấn công Muhammad. Họ sẽ dùng gươm tấn công và làm đổ máu Ông ấy. Không rõ ai sẽ giết Ngài. Do đó, họ phải đồng ý trả tiền cho sát thủ. Chúng ta sẽ trả tiền cho sát thủ và thoát khỏi rắc rối này ”. Shaytan cũng thích ý tưởng này và nhiệt tình khuyến khích và đề xuất nó.2
Trong khi những người theo đa thần đang bận rộn với việc chuẩn bị này, Jabrail 'alaihissalam đã đến và thông báo cho Rasul al-akram về quyết định của những người theo đa thần. Ngài ấy cũng bảo Ngài đừng ngủ trên giường của Ngài đêm đó và Allahu ta'ala đã ra lệnh cho Ngài di cư. Theo khải thị này, Tiên tri kính yêu của chúng ta bảo Hadrat Ali hãy ngủ trên giường của Ngài và đưa bất cứ thứ gì mà Ngài được giao phó cho chủ nhân của chúng và nói: “Tối nay, hãy ngủ trên giường của ta và đắp chiếc áo khoác này của ta lên người! Đừng sợ, sẽ không có hại gì cho ngươi đâu.”
Hadrat Ali nằm xuống giả làm Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta như hướng dẫn. Lúc đó, anh hai mươi ba tuổi. Anh sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Habibullah mà không hề sợ hãi.
Vào đêm Hegira, những kẻ ngoại đạo đã bao vây ngôi nhà phước hạnh của Giáo chủ Rasulullah của chúng ta. Đêm đó, những ayat đầu tiên của Surah Yasin đã được mặc khải. Khi Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, bước ra khỏi ngôi nhà ân phước của mình, Ngài lấy một nắm đất và ném lên đầu những kẻ vô đức tin trong khi đọc ayat al-karima thứ 9 của Surah Yasin, “Ta đã dựng một rào cản trước chúng và một rào cản sau chúng, và nhốt chúng lại; chúng không còn nhìn thấy được nữa.” (Nghe kể rằng đầu ai bị trúng đất đều bị giết ở Thánh chiến Badr.) Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đã vượt qua họ một cách an toàn và đến được nhà của Hadrat Abu Bakr. Không ai trong số những người theo đa thần có thể nhìn thấy Ngài.
Một lúc sau, có người đến gần những người đa thần và hỏi: “Tại sao các người lại đợi ở đây?” Họ trả lời: “Chờ Muhammad ra ngoài.” Người đó nói: “Tôi thề rằng Muhammad đã đi ngang qua các người và đi rồi; Ông ta còn ném đất lên đầu các người.” Những người theo đa thần chạm vào đầu họ. Quả thực, họ đã tìm thấy đất trên đầu mình. Ngay lập tức, họ phá cửa và vào nhà. Khi họ nhìn thấy Hadrat Ali trên giường của Rasul ‘alaihis-salam, họ hỏi Rasul al-akram ở đâu. Hadrat Ali nói, “Tôi không biết! Các người đã chỉ định tôi bảo vệ Ngài hả?” Sau đó, họ đã tấn công anh ta. Những kẻ vô tín này đã đi tìm Giáo chủ Rasulullah của chúng ta và bắt đầu săn lùng Ngài. Sau khi giam giữ Hadrat Ali gần Ka'ba một lúc, họ thả anh ta ra.3
Sau đó, họ đến nhà Hadrat Abu Bakr và thẩm vấn Asma, con gái của Hadrat Abu Bakr. Khi cô không trả lời, họ đã đánh cô. Mặc dù họ đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không thể tìm thấy và họ trở nên tức giận. Abu Jahl, kẻ hung dữ nhất trong số họ, đã ra lệnh cho những người báo tin loan báo trong và xung quanh Mecca và hứa tặng 100 con lạc đà cho những ai tìm thấy và mang về Tiên tri kính yêu của chúng ta và Hadrat Abu Bakr hoặc nói về địa điểm của họ. Một số người nghe lời hứa này của hắn và tham lam của cải liền cầm vũ khí, lên ngựa và bắt đầu săn lùng.
Khi ngôi nhà của Hadrat Abu Bakr hân hạnh được Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đến và nói, “Ta đã được phép di cư,” Hadrat Abu Bakr phấn khích hỏi, “Hãy để tôi chạm mặt tôi lên lớp bụi ân phước dưới chân Ngài, Hỡi Rasulallah! Tôi có đi cùng Ngài không?” Giáo chủ của chúng ta trả lời: “Có…” Hadrat Siddiq đã khóc vì vui sướng. Trong nước mắt, ông nói: “Cầu xin cha mẹ tôi, mạng sống tôi hy sinh vì Ngài, Hỡi Rasulallah! Những con lạc đà đã sẵn sàng. Xin hãy chấp nhận bất cứ con nào Ngài muốn.” Vua của thế gian đã nói: “Ta sẽ không cưỡi con lạc đà không thuộc về mình. (Tuy nhiên) Ta sẽ trả tiền để mua nó.” Theo quyết định này, Hadrat Siddiq phải nói giá của con lạc đà.
Hadrat Abu Bakr đã gọi một người tên là Abdullah ibn Urayqit, một hướng dẫn viên nổi tiếng, thuê anh ta để hướng dẫn và ra yêu cầu anh ta mang lạc đà đến hang động trên Mount Thawr ba ngày sau đó.
Vào thứ Năm, ngày 27 tháng Safar, năm thứ mười ba của Bi’that, Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta và Abu Bakr as-Siddiq đã mang theo một ít thức ăn và lên đường.
Trong khi đi, Hadrat Abu Bakr đi xung quanh Rasulullah, đôi khi ở bên phải, đôi khi ở bên trái, đôi khi ở phía trước và đôi khi ở phía sau. Khi Tiên tri của chúng ta hỏi tại sao ông làm thế, ông trả lời: “Để đề phòng bất kỳ nguy hiểm nào có thể xảy ra. Nếu có nguy hiểm, hãy để nó xâm phạm tôi trước. Cầu cho mạng sống của tôi được hy sinh cho quý thể của Ngài, Hỡi Rasulallah!
“Vì Allah, Hỡi Rasulallah, đừng vào! Hãy để tôi vào, nếu bên trong có gì độc hại thì sẽ xảy ra với tôi, để quý thể của Ngài không bị làm hại hay đau đớn.”
Abu Bakr
as-Siddiq
(radiy-Allahu
’anh)
Giáo chủ Sarwar al-alam của chúng ta nói, “Hỡi Aba Bakr! Ông có mong một thảm họa mà tôi sắp phải đối mặt xảy đến với ông không?” Hadrat Siddiq trả lời: “Vâng, thưa Rasulallah! Tôi thề trước Allahu ta'ala, người đã cử Ngài đến với tư cách là nhà tiên tri thực sự của tôn giáo chân chính rằng tôi muốn thảm họa xảy đến với tôi, thay vì với Ngài.”4
Vì đôi guốc của Tiên tri kính yêu của chúng ta quá chật nên chúng bị xé toạc trên đường và đôi chân ân phước của Ngài bị thương. Ngài không còn chút sức lực nào để bước đi. Họ leo núi một cách khó khăn và đến được hang động. Khi họ đến lối vào hang động, Hadrat Abu Bakr nói, “Vì Allah, Hỡi Rasulallah, đừng vào! Hãy để tôi vào, nếu bên trong có gì độc hại thì sẽ xảy ra với tôi, để quý thể của Ngài không bị phiền não hay đau đớn,” rồi đi vào trong. Ông quét và dọn dẹp. Bên trong hang có rất nhiều lỗ lớn nhỏ. Ông xé áo khoác và che các lỗ, nhưng vẫn còn một lỗ. Anh ta dùng gót chân che nó lại và mời Rasulullah vào hang.
Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) bước vào, ngã đầu ân phước của Ngài vào lòng Hadrat Abu Bakr và ngủ thiếp đi. Đúng lúc đó, một con rắn cắn vào chân Hadrat Abu Bakr. Để không đánh thức Rasulullah, ông chịu đựng cơn đau và không cử động chút nào. Nhưng khi nước mắt rơi trên khuôn mặt ân phước của Rasulullah, Ngài hỏi, “Này Aba Bakr, có chuyện gì vậy?” Hadrat Abu Bakr nói, “Một con rắn cắn vào chân tôi qua cái lỗ mà tôi dùng chân che lại.” Khi Giáo chủ Rasulullah của chúng ta lau nước bọt ân phước của Ngài lên vết thương của Abu Bakr, cơn đau của ông giảm ngay lập tức và ông được chữa lành.
Khi Giáo chủ Rasulullah của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) và Hadrat Abu Bakr as-Siddiq đang ở trong hang, những người đa thần đã theo dõi họ và đến trước cửa hang. Họ thấy lối vào hang đã bị phủ một mạng nhện và có hai con chim bồ câu đã làm tổ ở đó. Người theo dõi Kurz ibn Alqama nói, “Lối đi kết thúc ở đây.” Những người vô tín nói: “Nếu họ đã vào hang thì mạng nhện sẽ bị rách”.
Khi một số người trong bọn họ nói, “Chúng ta đã đi xa thế này, ai đó hãy vào hang và xem thử,” tên ngoại đạo Umayya ibn Khalaf nói, “Các người vô tri hay sao? Ta sẽ làm gì trong cái hang có nhiều lớp mạng nhện đó? Tôi thề rằng con nhện này chắc hẳn đã dệt mạng trước khi Muhammad ra đời.”
Trong khi những người đa thần đang tranh cãi ở cửa hang, Hadrat Abu Bakr bắt đầu lo lắng và nói, “Hỡi Rasulallah! Wallahi, tôi không lo lắng cho bản thân mình! Tuy nhiên, tôi sợ rằng có gì đó có thể xảy ra với quý thể của Ngài. Nếu tôi bị giết, tôi chỉ là phàm nhân, sẽ không có gì thay đổi. Tuy nhiên, nếu Ngài bị tổn hại, toàn bộ ummat sẽ bị tiêu vong, tôn giáo này sẽ bị hủy hoại.” Giáo chủ của chúng ta, Vua của vũ trụ đã nói với ông ấy rằng: “Hỡi Aba Bakr! Đừng đau lòng! Quả thật, Allahu ta'ala đang ở cùng chúng ta.”
Khi Abu Bakr as-Siddiq nói, “Hỡi Rasulallah! Mạng sống của tôi dành cho Ngài! Nếu một trong số họ cúi đầu xuống, hắn sẽ nhìn thấy chúng ta!” Giáo chủ của chúng ta nói: “Hỡi Aba Bakr! Hai ta và người thứ ba trong chúng ta là Allahu ta'ala. Đừng đau lòng! Quả thực, Haqq ta'ala đang ở bên chúng ta.” Những người theo đa thần quay về mà không nhìn vào bên trong.5
Allahu ta'ala nêu tình huống này trong Qur'an al-karim, bằng maal, “Nếu ngươi không giúp Ngài (Habib của ta), (hãy nhớ lần đó) Allahu ta'ala đã giúp đỡ Ngài (Rasulullah) khi Ngài ở trong hang động (trên đỉnh Mount Thawr) sau khi những kẻ vô tín đã đuổi Ngài ra khỏi (Mecca) là lần thứ hai trong số hai lần (với Hadrat Abu Bakr). Vào lúc đó, Ngài nói với bạn của Ngài (Abu Bakr as-Siddiq), ‘Đừng đau buồn, quả thật hồng ân của Allahu ta'ala đang ở cùng chúng ta.’ Allahu ta'ala đã ban sự bình yên để xoa dịu trái tim, tiếp thêm sức mạnh cho Ngài. (Habib của Người) với những đội quân (tâm linh), (bảo vệ Ngài bởi các thiên thần) mà ngươi không thể nhìn thấy và hạ thấp triệt để lời nói của những kẻ vô tín. Và lời (tawhid) của Allahu ta'ala là tối thượng (Allah truyền ban lời của Người đến vũ trụ và khiến nó ngự trị). Allahu ta'ala là người chiến thắng tuyệt đối. Người là Chủ nhân duy nhất của sự phán xét và sự khôn ngoan.”6
Nhà tiên tri kính yêu của chúng ta và Hadrat Abu Bakr đã ở trong hang động đó ba ngày ba đêm. Mỗi đêm, Abdullah, con trai của Hadrat Abu Bakr, đến và thông báo cho họ về những gì anh nghe được ở Mecca, trong khi đó người nô lệ và chăn cừu đã tự do của anh, Amir ibn Fuhayra, mang sữa vào ban đêm và xóa sạch dấu vết. Ngày thứ tư, vào lúc chạng vạng của Thứ Hai, Nhà tiên tri kính yêu của chúng ta rời hang Thawr và cưỡi con lạc đà tên là Quswa của Ngài. Theo một lời kể, Ngài cũng đưa Hadrat Abu Bakr lên con lạc đà của mình. Amir ibn Fuhayra và Abdullah ibn Urayqit, những người biết rõ đường đi, cưỡi con lạc đà còn lại.
Giáo chủ của thế gian (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đang rời quê hương Mecca al-Mukarramah, thành phố quý giá nhất, được Allahu ta'ala ca ngợi. Ngài hướng con lạc đà của mình về phía Haram ash-sharif và nói trong nỗi buồn, “Wallahi! Mi là nơi may mắn nhất trong số những nơi được Allahu ta'ala tạo ra và là nơi được yêu quý nhất trong mắt Rabb của ta! Ta sẽ không bỏ rơi mi nếu ta không bị đuổi ra ngoài. Với ta, không có quê hương nào đẹp và thân yêu hơn mi. Nếu người của ta không loại ta ra khỏi mi, ta sẽ không rời bỏ mi và ta sẽ không định cư ở bất cứ nơi nào khác.”
Đúng lúc đó, Hadrat Jabrail xuống và hỏi, “Hỡi Rasulallah! Ngài có nhớ quê hương không?” Giáo chủ của chúng ta trả lời: “Có, tôi nhớ!” Jabrail 'alaihis salam an ủi Ngài bằng cách đọc ayat al-karima thứ 85 của Surah al-Qasas, mang đến tin vui rằng Ngài sẽ trở lại Mecca.
“(Hỡi Mecca al-muqarrama!) Đối với ta, không có quê hương nào đẹp đẽ và thân yêu hơn mi. Nếu người của ta không loại ta ra khỏi mi, ta sẽ không rời bỏ mi và ta sẽ không định cư ở đâu cả.
Hadith
ash-sharif
Hành trình của họ diễn ra bình yên. Mặc dù những người đa thần đã tìm kiếm khắp nơi nhưng chúng không thể tìm thấy họ. Janab al-Haqq đang bảo vệ Habib của mình khỏi cái ác của chúng. Khi họ đến một nơi tên là Qudayd, Giáo chủ Rasulullah của chúng ta dừng lại trước căn lều của một người phụ nữ thông minh và thanh khiết tên là Umm Ma'bad, người nổi tiếng vì sự hào phóng của mình. Họ muốn mua thực phẩm, chà là và thịt. Umm Ma'bad nói, “Nếu có, tôi sẽ đãi các vị một bữa miễn phí. Vì nạn đói và khó khăn về tài chính nên chúng tôi chẳng còn gì cả”. Khi được hỏi: “Có sữa không?” Bà ấy trả lời: “Không, đàn cừu gầy còm”. Chỉ vào một con cừu yếu đuối đứng cạnh lều, Vua của vũ trụ (sall-Allahu ’alaihi wa sallam) nói: “Hỡi Umm Ma’bad! Sao con cừu này lại bị trói ở đây?” Bà ấy trả lời: “Nó bị tụt lại phía sau đàn vì nó rất ốm yếu. Vì nó không còn sức nên không thể đi.” Khi Nhà tiên tri của chúng ta hỏi: “Nó có sữa không? Bà có cho phép tôi vắt sữa con cừu này không?” Bà ấy trả lời: “Cầu cho cha mẹ tôi hy sinh vì Ngài, nó không có sữa nhưng không điều gì ngăn cản Ngài vắt sữa nó”. Giáo chủ Rasulullah của chúng ta đến bên cạnh con cừu và nói tên Allahu ta'ala. Sau khi cầu nguyện với những lời ân phúc, Ngài chạm vào bầu vú của con cừu bằng bàn tay đầy phước lành của Ngài. Lúc đó bầu vú đã đầy sữa và bắt đầu chảy ra. Họ ngay lập tức mang một cái bát và đổ đầy nó. Đầu tiên Ngài đưa sữa cho Umm Ma'bad. Sau khi bà uống xong, Ngài đưa nó cho Hadrat Abu Bakr và những người khác và bắt họ uống cho đến khi no. Ngài uống sau những người khác. Ngài lại chạm vào bầu vú của con cừu bằng bàn tay ân phước của Ngài và yêu cầu chiếc bát lớn nhất trong lều. Ngài đổ đầy và giao nó cho Umm Ma'bad. Theo lời kể, con cừu đó đã sống được mười tám năm. Họ kiếm sống với con cừu đó nhờ sự phù hộ của Giáo chủ Fakhr al-alam của chúng ta.
Sau khi họ rời đi, chồng của Umm Ma’bad đến và nhìn thấy sữa. Anh ấy rất vui mừng và hỏi: “Sữa này đến từ đâu?” Umm Ma’bad trả lời: “Ngôi nhà của chúng ta vinh hạnh có một người phước hạnh đã đến. Những gì ông nhìn thấy là kết quả lòng nhân từ của Ngài.” Ông ấy hỏi, “Bà sẽ mô tả Ngài chứ? Ngài trông như thế nào?”
Umm Ma’bad nói, “Phúc nhân mà tôi nhìn thấy có thân hình rất cân đối và có khuôn mặt tươi cười. Có sắc đỏ ánh lên trong mắt Ngài và sự hoà nhã trong giọng nói của Ngài . Lông mi ân phước của Ngài dài. Mắt Ngài có lòng trắng rất trắng và lòng đen rất đen. Đôi mắt của Ngài có đường viền bẩm sinh. Tóc Ngài đen và râu Ngài dày. Khi Ngài không nói, Ngài có một vẻ trang nghiêm và đạo mạo. Ngài mỉm cười khi nói, và những lời tuôn ra ngọt ngào từ miệng Ngài, giống như những chuỗi ngọc trai. Nhìn từ xa, Ngài trông rất uy nghiêm, khi đến gần, Ngài trở nên rất niềm nở và thu hút. Những người đi cùng đã toàn tâm thực hiện mệnh lệnh của Ngài,” và tiếp tục liệt kê thêm nhiều đặc điểm của Ngài. Sau khi lắng nghe những điều này với sự ngạc nhiên, chồng bà nói: “Tôi thề rằng người này chính là người mà người Quraysh đang tìm kiếm. Nếu tôi gặp Ngài, tôi sẽ hân hạnh được phục vụ Ngài và sẽ không rời bỏ Ngài”. Chồng của Umm Ma'bad đã đuổi theo Giáo chủ Rasulullah của chúng ta, bắt kịp Ngài tại Thung lũng Rim và trở thành một Muslim. Ông rất vinh dự khi trở thành Ashab. Umm Ma'bad cũng trở thành Muslim.7
Suraqa ibn Malik
Những người theo đa thần liên tục tìm kiếm Muhammad 'alaihis-salam và Hadrat Abu Bakr, những người đang đi tới Medina. Nếu những người theo đa thần không thể tìm thấy họ, mối nguy hiểm lớn sẽ xảy ra với chúng. Bởi vì chúng nghĩ rằng người Muslim có thể thành lập một “Nhà nước Hồi giáo” và tiêu diệt chúng trong thời gian ngắn. Vì lý do này, những người theo đa thần đưa ra mọi thứ chúng có. Chúng hứa sẽ tặng một trăm con lạc đà cũng như vô số hàng hóa và tiền bạc cho những ai giết hoặc bắt được Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta và Hadrat Abu Bakr. Tin tức này cũng lan truyền trong số con cháu của Mudlij, trong đó có Suraqa ibn Malik. Suraqa ibn Malik là một người theo dõi thành thạo. Vì vậy, anh ta rất quan tâm đến những gì đang diễn ra.
Vào một ngày Thứ Ba, hậu duệ của Mudlij tập trung tại Qudayd, khu vực nơi Suraqa ibn Malik sinh sống. Anh ta cũng có mặt tại cuộc họp. Lúc đó, một trong những người của Quraysh đến và nói với anh ta, “Hỡi Suraqa! Wallahi, tôi vừa thấy một nhóm ba bốn người đang đi về phía bờ biển. Có khả năng họ là Muhammad và Ashab của Ông ấy.” Suraqa hiểu tình hình nhưng phần thưởng quá lớn và anh ta muốn chiếm lấy một mình. Vì thế, anh ấy không muốn bất kỳ ai khác được thông báo. “Không, những người ông nhìn thấy cũng như bao người. Họ chỉ đi qua thôi. Chúng tôi cũng đã nhìn thấy họ,” anh ta nói, như thể chuyện đó chẳng có gì quan trọng cả.
Suraqa ibn Malik đợi thêm một chút nữa. Không có ai chú ý, anh ta về nhà. Anh ta bảo người hầu của mình lấy ngựa và vũ khí đợi anh ta ở phía sau thung lũng. Anh ta lấy cây giáo của mình và quay ngược xuống để ánh sáng của nó không thu hút sự chú ý. Anh ta bắt đầu phóng ngựa. Anh ấy đi theo hướng đã đề cập và cuối cùng đã tìm thấy dấu vết. Anh ấy ở gần đến nỗi anh ấy thậm chí có thể nghe thấy Kinh Qur'an al-karim mà Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đang đọc. Tuy nhiên, Rasul al-akram (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) không hề nhìn lại. Khi Hadrat Abu Bakr nhìn lại, ông nhìn thấy Suraqa và trở nên lo lắng. Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta, giống như lúc trong hang động, Ngài nói: “Đừng đau buồn! Allahu ta'ala đang ở cùng chúng ta.”
Theo lời kể của Hadrat Bukhari, khi Hadrat Abu Bakr thông báo cho Rasul al-akram rằng có một kỵ nhân đang đến gần họ, Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã cầu nguyện: “Hỡi Rabb của tôi! Hãy làm anh ta té xuống!” Theo một lời kể khác, Hadrat Abu Bakr bắt đầu khóc khi Suraqa đến chỗ họ. Khi Giáo chủ Rasul al-akram của chúng ta hỏi tại sao ông ấy khóc, ông ấy nói: “Tôi thề với Allah rằng tôi không khóc vì lo cho mình. Tôi khóc vì tôi sợ Ngài có thể bị tổn hại ”.
Suraqa đã đến đủ gần để tấn công Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Anh ta hỏi: “Hỡi Muhammad! Hôm nay ai sẽ bảo vệ Ông khỏi tôi! Giáo chủ Sarwar al-alam của chúng ta đã trả lời: “Allahu ta'ala, Jabbar (Người tuân mệnh Allah) và Qahhar (Người cai quản mọi tạo vật), sẽ bảo vệ ta.” Đúng lúc đó, hai chân trước con ngựa của Suraqa lún xuống đất tới đầu gối. Khi anh ta thoát được điều này và cố gắng tấn công, chân ngựa của anh ta lại chìm xuống đất. Suraqa dù có ép ngựa mạnh đến đâu cũng không thể giải thoát nó. Anh ta không thể làm gì khác được. Khi bất lực, anh ấy bắt đầu cầu xin Giáo chủ Rasulullah của chúng ta, người từ bi và nhân hậu. Tiên tri của chúng ta, người tập hợp tất cả những đức tính và phẩm chất đạo đức tốt đẹp, đã chấp nhận mong muốn của anh ta. Suraqa nói, “Hỡi Muhammad! Tôi hiểu rằng Ngài được bảo vệ. Hãy cầu nguyện để tôi được tự do. Tôi sẽ không bao giờ làm hại Ngài. Tôi cũng sẽ không tiết lộ Ngài với những người đang tìm kiếm Ngài.” Khi Giáo chủ của vũ trụ cầu nguyện: “Hỡi Rabb của tôi! Nếu anh ta thành thật trong lời nói của mình, hãy thả con ngựa của anh ta ra,” Allahu ta'ala đã chấp nhận lời cầu nguyện này.
Con ngựa của Suraqa ibn Malik chỉ có thể thoát khỏi mặt đất sau lời cầu nguyện này. Khi ấy, có thứ gì đó giống như khói bay lên trời từ nơi chân ngựa chìm xuống đất. Suraqa rất kinh ngạc, và vì tất cả những gì đã xảy ra, anh ta hiểu rằng Muhammad 'alaihis-salam luôn được bảo vệ. Anh ta đã chứng kiến nhiều điều. Cuối cùng, anh ta nói: “Hỡi Muhammad! Tôi là Suraqa ibn Malik! Xin đừng nghi ngờ gì về tôi. Tôi hứa với Ngài. Từ giờ trở đi tôi sẽ không làm điều gì mà Ngài không thích nữa. Người Quraysh hứa sẽ trao nhiều phần thưởng cho ai bắt được Ngài và các bạn của Ngài ”. Anh ta giải thích từng điều một những gì người theo đa thần Quraysh dự định làm. Anh ấy thậm chí còn cung cấp thức ăn và lạc đà cho cuộc hành trình, nhưng Vị tiên tri kính yêu của chúng ta không chấp nhận và nói: “Hỡi Suraqa! Trừ khi bạn theo Islam, ta không muốn lạc đà và gia súc của bạn. Chỉ cần che giấu sự thật là bạn
“Này Suraka! Nó giống như ta có thể thấy ngươi đeo vòng tay, thắt lưng và vương miện của Shah vậy!”
Hadith
ash-sharif
đã nhìn thấy chúng tôi; thế là đủ rồi.”
Ibn Sa'd kể lại: Khi Suraqa nói với Giáo chủ Rasulullah của chúng ta, “Hãy ra lệnh cho tôi bất cứ điều gì Ngài muốn,”, Ngài nói, “Hãy ở lại vùng đất của bạn. Đừng để bất cứ ai đuổi kịp chúng tôi.”
Bất cứ điều gì đều có thể xảy ra nếu Allahu ta'ala muốn thế. Khi thật sự tin tưởng Người và đi theo con đường của Người thì những sự việc khó hiểu sẽ xảy ra. Suraqa, người ra đi với thái độ của một con sư tử gầm thét, với lòng tham muốn đạt được những phần thưởng lớn bằng cách giết chết Giáo chủ Rasulullah của chúng ta, sau đó đã trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, trầm tính. Allahu ta'ala toàn năng đã biến trái tim của Suraqa trở nên hiền từ để anh ta không làm hại Habib của mình. Tất nhiên, Allahu ta'ala sẽ không để Habib (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) của Người một mình. Bởi vì Ngài là Vị tiên tri kính yêu của Người, người mà Allah đã gửi đến vì thương xót con người và để họ đạt được hạnh phúc và an lạc vô tận trên thế giới này và trong akhirat.
Rồi Suraqa quay về. Anh ấy không hề nói với bất cứ ai về những gì anh ta đã trải qua.8
Chủ nhân của vũ trụ đang đến!
Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta (sall-Allahu 'alaihi wa sallam), Hadrat Abu Bakr, Amir ibn Fuhayra và người hướng dẫn của họ Abdullah ibn Urayqit đã đến thị trấn “Quba” vào giữa sáng ngày thứ 13 năm Bi'that (năm 622 sau CN) nhằm Thứ Hai ngày 20 tháng 9 và năm đầu tiên của Hegira, ngày 8 tháng Rabi'ul-awwal, sau một cuộc hành trình kéo dài một tuần.
Họ ở tại nhà của một người Muslim tên là Kulthum ibn Hidm.
Các muhajir đầu tiên đã biến nơi phơi chà là của hậu duệ của Amr ibn Awf thành một namazgah (một địa điểm ngoài trời để hành lễ namaz có một tảng đá được dựng lên để chỉ dẫn qibla) trước khi Rasul al-akram đến Medina. Khi Rasulullah đến Quba, Ngài đã xây dựng masjid (thánh đường) đầu tiên bằng việc mở rộng namazgah này. Họ hành lễ namaz tại Masjid al-Quba.
Masjid al-Quba được ca ngợi trong ayat al-karima thứ 108 của Surah at-Tawba, bằng maal, “… Masjid có nền tảng được xây dựng bằng taqwa (lòng mộ đạo).”9
Họ khởi hành đi Medina vào thứ Sáu, ngày 12 tháng Rabi'ul-awwal, sau khi đã qua ngày 23 tháng 9, khi ban ngày và ban đêm bằng nhau, tại thị trấn Quba. Vào thời điểm hành lễ lễ nguyện dhuhr (buổi trưa), họ dừng lại ở thung lũng Ranuna, nằm giữa Medina và Quba. Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) đã làm chủ tế lễ nguyện Jumah (Thứ Sáu) đầu tiên và giảng khutba đầu tiên (bài giảng do imam trình bày trên bục giảng trong lễ ngày thứ Sáu và các ngày lễ Islam) tại đây.10 Và cùng ngày hôm đó, họ đến được Medina. (Sau này, một nhà thờ Islam tên là “Masjid al-Jumah” đã được xây dựng ở đó để tưởng nhớ Jumah namaz đầu tiên.)
Trong khi đó, Hadrat Ali, người còn ở lại Mecca, ngồi ở nơi mà Giáo chủ Rasulullah của chúng ta luôn ngồi trong Ka'ba ash-sharif. Anh ta thông báo rằng, “Những người đã giao đồ đạc cho Rasul al-akram cất giữ có thể đến và nhận lại!” Mọi người đã đến và lấy đồ đạc bằng cách thông báo thứ mình muốn lấy.
Hadrat Ali, con sư tử của Allah, đã đến nơi tập hợp những người Quraysh vô đức tin. Anh ấy nói với họ, “Insha-Allahu ta’ala, ngày mai tôi sẽ đến Medina al-Munawwarah. Các người có điều gì muốn nói không? Hãy nói khi tôi còn ở đây.” Tất cả đều cúi đầu và không nói gì. Vào buổi sáng, Hadrat Ali thu dọn đồ đạc cá nhân của Giáo chủ Rasul al-akram của chúng ta và lên đường. Mặc dù có 4 hoặc 5 người Quraysh chặn đường anh ta nhưng anh vẫn đánh trả được. Khi đang đi trên đường, anh tình cờ gặp Mikdad ibn Aswad. Anh hạ gục anh ta chỉ bằng một đòn và mời gọi anh ta đến với đức tin. Anh ấy chấp nhận và trở thành một Muslim. Anh tiếp tục đi và đến gặp Giáo chủ Rasulullah của chúng tôi ở Quba với máu rỉ ra từ đôi chân sưng tấy của mình. Khi kết thúc cuộc hành trình phải ẩn náu vào ban ngày và đi vào ban đêm, anh ấy ở trong tình trạng tệ đến mức không thể đến gặp Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta. Ngay khi Giáo chủ Rasul al-akram chúng ta nghe được điều này, Ngài đã đến gặp anh. Khi Ngài nhìn thấy Hadrat Ali, Ngài cảm thấy thương cho anh, ôm lấy người anh họ yêu quý, tận tụy của mình, dùng đôi bàn tay ân phước của Ngài vuốt ve đôi chân dịu dàng đã chịu đựng hàng ngàn khó khăn trên con đường chân chính, và cầu nguyện cho sự an lành của anh ấy. Hơn nữa, có lời cho rằng ayat al-jalila, bằng maal, “Có những người đã hy sinh nafses (bản thân) mình như thế vì Allahu ta'ala,”11 là nói về sự sùng kính đó của Hadrat Ali.12
Khi Ashab al-kiram, những người trước đây đã di cư đến Medina, và những người Muslim ở Medina, nghe tin Vua của vũ trụ đã rời Mecca để di cư, họ háo hức chờ đợi sự xuất hiện của Ngài. Vì lý do này, họ cử người canh gác các khu vực ngoại ô của Medina và háo hức chào đón Giáo chủ chúng ta khi Ngài vào thành phố. Những người cháy bỏng tình yêu Ngài đã chờ đợi bao ngày, nhìn về phía chân trời như sa mạc nóng bỏng khao khát mưa.
Cuối cùng, đột nhiên một giọng nói vang lên: “Họ đang tới! Họ đang tới!” Nghe vậy, mọi người bắt đầu hướng về phía giữa sa mạc nóng bỏng. Đúng! Đúng! Mọi người cũng thấy họ đang di chuyển về phía mình một cách uy nghi từ sa mạc nóng bức bất chấp cái nóng thiêu đốt của mặt trời. Họ bắt đầu reo hò vui vẻ với nhau: “Tin vui! Tin vui! Rasulullah đang đến! Vị tiên tri của chúng ta đang đến! Hãy mừng vui, hỡi người dân Medina. Hân hoan! Habibullah đang đến! Người cao quý của chúng ta đang đến!” Ngay lập tức, tin tức này lan truyền trên đường phố Medina al-Munawwarah. Tất cả mọi người, từ trẻ em, người già đến người bệnh đều chờ đợi tin vui chưa từng có này.
“Có những người hy sinh nafs (bản thân) của mình vì Allahu ta’ala như thế.”
Baqara: 207
Tất cả người dân Medina mặc những bộ quần áo đẹp nhất, vội vã chào đón Chủ nhân của thế gian. Lời takbir vang vọng cả bầu trời, những giọt nước mắt vui mừng tuôn rơi như lũ. Bầu không khí buồn bã lẫn hạnh phúc, và Medina đang tận hưởng ngày đẹp nhất trong lịch sử của mình. Một mặt, có những người treo thưởng cho việc giết Habib của Allahu ta'ala, người được mọi người gọi là “Al-Amin”, mặt khác, có những người muốn bảo vệ Ngài và bạn bè của Ngài, ôm lấy họ và hy sinh mạng sống của mình vì sự nghiệp này.
Người dân Medina muốn nhìn thấy khuôn mặt rạng rỡ của Vị tiên tri kính yêu của chúng ta càng sớm càng tốt. Medina chưa từng chứng kiến khoảnh khắc vui vẻ, hạnh phúc như vậy. Đây là một lễ hội chưa từng thấy trước đây.
Trẻ em, thanh niên, người già, người may mắn đều đọc bài thơ sau đây trong ngày vui đó, điều chưa từng có và sẽ không bao giờ có:13
Tala’al badru alaina
Min saniyyati’l-wada’,
Wajaba’sh-shukru ‘alaina,
Ma da’a-lillahi da’.
‘Ayyuh’al-mab’usu fina,
Ji’ta bil-‘amri’l muta’,
Ji’ta sharrafta’l-Medina,
Marhaban ya khayra da’.
Anta shamsun, anta badrun,
Anta nurun a’la nur,
Anta misbah-s’Sureyya,
Ya Habibi, ya Rasul!
Kad labisna savba ‘izzin,
Ba’de aswabi’r-rika’,
Wa rada’na sedye mejdin,
Ba’de eyyam‘id-daya’.
Kaalet ahmaru’d-dayaci,
Kulli arbabil-Islam,
Kullu men yetba’ Muhammad,
Yenbegi an la yudam.
Wa te’ahedna jamian,
Yavma aksemne’l-yemin,
Len nehune’l ahde yevmen,
Vettehazne’s-sidka din.
Leste wallahi neziyyen,
Ma yukasihi’l ’ibad,
Mashheden ya necme amnin,
Zu vebain wa vidad.
Trăng tròn đã mọc trên chúng ta,
Từ ngọn đồi Wada
Chúng ta phải bày tỏ lòng biết ơn,
Khi được gọi mời đến với Allah.
Hỡi Thiên Sứ, được chọn trong chúng ta,
Ngài đã đến với Amrullah,
Ngài đã mang lại vinh dự cho Medina,
Chào mừng, hỡi người yêu quý.
Ngài là mặt trời, là mặt trăng,
Ngài thật tuyệt vời,
Ngài là ánh sáng của Pleiades,
Hỡi người yêu quý, Hỡi Rasul.
Chúng ta tràn đầy vinh dự,
Chúng ta thoát khỏi sự rách rưới,
Chúng ta đã đạt đến sự vĩ đại,
Chúng ta đã thua lỗ, giờ chúng ta có lợi.
Mặt trăng xua tan bóng tối nói rằng:
Hãy bảo với những người bảo vệ,
Đừng bao giờ làm tổn thương ai,
Tuân theo Muhammad ('alaihis-salam).
Chúng ta đã cùng hứa với nhau
Vào ngày ta cam kết,
Sự thật là con đường của chúng ta,
Không có sự phản bội trong Islam.
Wallahi, tôi sẽ không quên,
Không có ngày nào không đau đớn,
Ngài là nhân chứng, hỡi ngôi sao Amnin,
Lòng trung thành và tình yêu Ngài rất lớn.
Những lời thỉnh cầu “Chào mừng, Hỡi Rasulallah”, “Xin hãy tôn vinh ngôi nhà của chúng tôi,” vang lên từ mọi hướng. Một số người nổi tiếng ở Medina đã nắm lấy dây cương của Quswa và cầu xin Ngài, “Hỡi Rasulallah! Xin hãy tôn vinh ngôi nhà của chúng tôi…” Ngài nói, “Hãy thả dây cương con lạc đà của ta, nó sẽ chọn. Lạc đà của ta quỳ trước nhà nào thì ta làm khách ở đó!” Mọi người đều trở nên phấn khích và tò mò. Quswa sẽ quỳ ở đâu? Quswa tiến về phía trung tâm Medina, và khi đi ngang qua từng cánh cửa, người chủ nhà sẽ nói:
“Hỡi Rasulallah! Xin hãy tôn vinh chúng tôi, xin hãy tôn vinh chúng tôi!” Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta đã mỉm cười và nói: “Hãy mở đường cho lạc đà! Nó đã được lệnh phải quỳ xuống ở đâu.”
Cuối cùng, Quswa quỳ xuống nơi có cánh cửa của masjid ash-sharif của Giáo chủ, Tiên tri của chúng ta ngày nay. Rasulullah (sall-Allahu 'alaihi wa sallam) không xuống lạc đà của Ngài. Con lạc đà lại đứng dậy và bắt đầu bước đi. Rồi nó quỳ xuống chỗ cũ và không đứng dậy nữa. Sau đó, Giáo chủ của chúng ta xuống khỏi Quswa và nói: “Insha-Allah, đây là nhà của chúng ta,” rồi hỏi: “Ai là chủ sở hữu của nơi này?” Họ trả lời: “Hỡi Rasulallah! Suhayl và Sahl, con cháu của Amr.” Chúng là trẻ mồ côi. Nhà tiên tri của chúng ta hỏi: “Nhà ai trong số họ hàng của chúng tôi là gần nhất ở đây?” Mẹ của ông nội Rasulullah của chúng ta, Abdulmuttalib, đến từ hậu duệ của Najjar. Hadrat Khalid ibn Zayd Abu Ayyub al-Ansari nói với vẻ vô cùng phấn khích, “Hỡi Rasulallah! Nhà tôi ở gần nhất. Đây là nhà của tôi và đây là cửa của nó.” Rồi ông dỡ đồ đạc khỏi Quswa và mời Giáo chủ Rasulullah của chúng ta vào.14
Những người Muslim ở Medina và những người Muhajir vô cùng vui mừng trước Hegira của Giáo chủ chúng ta. Năm ấy được gọi là “Sanat al-izin” (năm cho phép).
Viên ngọc quý của nhân loại, người chữa lành những trái tim, người yêu quý của Allahu ta‘ala, Giáo chủ của chúng ta, Vị tiên tri đã 53 tuổi trong thời kỳ Hegira.
ĐIỀU GÌ SẼ ĐẾN VỚI TÔI?
Điều gì sẽ đến với tôi, hỡi Rasulallah?
Linh hồn và thể xác của tôi như thiêu đốt, Hỡi Rasulallah.
Như ngọn lửa phất phơ và lư trầm,
Tôi cháy bỏng với tình yêu của Ngài, Hỡi Rasulallah.
Với sự khao khát và chia ly,
Tôi đang tan chảy, Hỡi Rasulallah.
Ngài là Shah của sự sáng tạo, trên cánh cửa cao quý của Ngài,
Tôi là người cúi đầu, Hỡi Rasulallah.
Mảnh đất Ngài bước tới, hoa hồng đã nở,
Tôi là gai trên đó, Hỡi Rasulallah.
Abu Ayyub al-Ansari radiy-Allahu ‘anh
